Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014


VĂN HÓA KHÔNG PHẢI LÝ DO THẤT BẠI
Đặng Hoàng Giang

Một trong những tác động xã hội bất ngờ của dàn khoan HD981 là giống như một bác sĩ tâm lý nghiêm khắc, nó bắt người Việt quay lại truy vấn về bản thân mình, về gốc gác và bản sắc văn hoá của mình. Và khá nhanh chóng, chữ “thoát Trung” được truyền tay nhau.
Một cảm giác hưng phấn treo lơ lửng trên không và chạy rần rật trên các mạng xã hội. “Một cơ hội nghìn năm có một”, thời cơ để Việt Nam thoát khỏi cái bóng (ma) rộng lớn mang tên Trung Quốc - nhiều người tự nhủ.

Không chỉ muốn thoát khỏi tầm ảnh hưởng về kinh tế (ai mà chẳng muốn miếng cơm, manh áo của mình không phụ thuộc vào một kẻ duy nhất), hay về chính trị (ai mà chẳng muốn mình không phải một con rối của một quốc gia khác), rất nhiều tiếng nói yêu cầu Việt Nam thoát Trung về văn hoá.
Theo họ, khước từ văn hoá Trung Quốc, tức là khước từ gốc gác của văn hoá Việt, là điều cấp thiết nhất để Việt Nam trở nên hùng mạnh và thịnh vượng.

Là một trong những giọng nói khẩn thiết nhất, bài “Thoát Trung luận” của tác giả Giáp Văn Dương kêu gọi Việt Nam hướng tới phương Tây (thú vị thay, bằng văn phong của một bản hịch thời phong kiến).
Bài luận phê bình việc dùng các bài khấn bằng chữ Hán trong ma chay “mặc dù người chết không đọc được lấy một chữ”, hay việc chiếu phim Trung Quốc trên TV.

Ông Dương liệt kê ra những thói hư tật xấu mà ông cho là đặc trưng của văn hoá Trung Quốc, như “ngông nghênh coi thường chân lý”, “ếch ngồi đáy giếng”, “bằng cấp hư danh” và cho rằng do quá “nghiêm cẩn” với “người thầy” phương Bắc của mình, nhất nhất tuân theo, mà người Việt để cho những thói hư tật xấu này hoành hành ở đất nước mình.
Theo ông, đi theo những giá trị tiến bộ phương Tây là cách duy nhất để dứt bỏ “thói hành dân”, “nịnh trên lừa dưới”, “tệ chạy chức chạy quyền”.

Những người khác còn đi xa hơn, họ cho rằng đạo Khổng, với đạo lý tôn trọng tôn ti trật tự, cá nhân nằm dưới gia đình nằm dưới cộng đồng nằm dưới vua quan, chính là lý do tại sao chúng ta lại ở trong tình trạng bi đát như bây giờ. Phải đoạn tuyệt với văn hóa Khổng Giáo, thay thế nó bằng chủ nghĩa tự do cá nhân, họ khẳng định.
Tư tưởng của các nhà cách tân Việt Nam của đầu thế kỷ 20 được lấy ra, phủi bụi, và sử dụng lại y nguyên như là thế giới vẫn đứng im trong 100 năm qua. “Đi theo phương Tây, hay là chết” - phương châm của họ có thể tóm tắt lại như thế.

'Sửa ruột bên trong'
Đáng tiếc là câu chuyện không đơn giản như vậy.
Nếu ông Lý Quang Diệu có theo dõi cuộc tranh luận sôi nổi này của người Việt, hẳn ông ta phải nhăn mũi khó chịu. Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, ông đã quảng bá không mệt mỏi cho “những giá trị châu Á”, được nuôi dưỡng chính từ những triết lý của Đạo Khổng, và coi con đường cá nhân chủ nghĩa của phương Tây, đặc biệt là của Mỹ, là đi vào chỗ tắc.

Ngoài ông Diệu, cơ man các công trình nghiên cứu kinh tế phát triển cũng cho rằng sự thành công của bốn con rồng Á châu (Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Hong Kong) là do đóng góp của văn hoá Khổng giáo: tôn trọng trật tự, kỷ luật, hy sinh cá nhân vì lợi ích tập thể.
Singapore đã đưa Khổng giáo vào trong chương trình giáo dục phổ thông tới tận thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tức là trong toàn bộ 30 năm cất cánh của họ. Các tập đoàn lớn của Hàn quốc dùng các giá trị Khổng giáo trong các khoá đào tạo lãnh đạo của mình.
Không cần tới ví dụ của các con rồng châu Á người ta cũng có thể thấy là “ngông nghênh”, “hành dân”, “tham nhũng”, “chạy chức chạy quyền” không phải đặc tính của Khổng giáo, hay của bất cứ một văn hoá nào khác, mà là đặc tính của một nền quản trị quốc gia bị thất bại.

Sự thành công thì có nhiều con đường, Bắc Âu, Bắc Mỹ hay Đông Á, nhưng sự thất bại thì bao giờ cũng có hình thù giống nhau. Tham nhũng ở Phillipines thì cũng có hình dạng như ở Pakistan hay ở Việt Nam, cho dù văn hoá của các nước này là Công giáo, Đạo Hồi hay Khổng giáo.
Mục tiêu lớn nhất của các nhà cách tân Việt Nam đầu thế kỷ 20 là khắc phục tinh thần “dị ngoại”, nghĩa là ghét cái khác mình, của người Việt, để người Việt có thể hiểu được phương Tây, làm việc cùng phương Tây, và trở nên hiện đại như phương Tây.

Việt Nam của thế kỷ 21 nằm trọn vẹn trong một thế giới phẳng. Nhân lực, vốn tài chính, các sản phẩm văn hoá, di chuyển xuyên quốc gia theo sự điều khiển của bàn tay thị trường toàn cầu. Cách đây 100 năm, cắt móng tay, tóc húi cua, mặc áo vét, đi giày da… là những hành động mang tính biểu tượng để đưa người Việt Nam lại gần với một nền văn minh của máy móc và công nghệ. Ngày nay, mục đích của Việt Nam là xây dựng thượng tôn pháp luật, phát triển kinh tế bền vững, đi cùng với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Cái cần phải sửa là cái ruột bên trong, chứ không phải những cái hình thức bên ngoài như ông Giáp Văn Dương lo lắng.
Bởi vì với cái thẩm mỹ của số đông u mê hiện nay, với cung cách chụp giật, câu view của các nhà đài, không có phim tập Tàu thì sẽ có phim tập Hàn, đầy ung thư, phản bội, chia ly sướt mướt, hay phim tập Việt sống sượng rẻ tiền. Cũng là nhét rác vào đầu thì có cần ưu tiên rác Việt, rác Hàn chứ không phải rác Tầu?
Bởi vì nếu hàng năm Tết đến người ta vẫn xin ông đồ chữ Nhẫn như một cái máy, mà không ai bỏ ra lấy hai phút để nghĩ xem trong năm mình đã tu tập, cảnh tỉnh bản thân thế nào, thì nếu có bỏ cái chữ Hán đó đi mà thay vào đó một cái gì mà người ta “đọc được” như ông Dương yêu cầu (“Keep calm” cho nó Tây?) thì cái tờ chữ đó cũng chẳng thần kỳ biến người sở hữu nó thành một người tự chủ, đàng hoàng, bản lĩnh.
Bởi vì nếu các trường học chỉ thay cái khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đi, và thay vào đó là “Hãy tin vào chính bạn” (một phương châm 100% Mỹ), thì liệu vì thế nạn dạy thêm, phong bì, chạy trường chạy điểm, sẽ bỗng dưng biến mất. Nếu thay cái Tết Nguyên đán bằng Lễ Noel thì người ta sẽ thôi biếu sếp phong bì tiền tấn, mà chuyển sang tặng ngỗng?

Văn hóa không phải lý do

Ông Giáp Văn Dương và những người giống ông có đang đề nghị Việt Nam làm một cuộc cách mạng văn hoá nữa, lại đạp đổ các đền chùa miếu mạo, lại lên danh sách các “hủ tục”, phát động phong trào xây dựng “văn hoá mới”, duy lần này không phải xây dựng “con người mới xã hội chủ nghĩa mà là ”con người mới tư bản toàn cầu”?

Tôi mong muốn được nhìn thấy các cộng đồng mà người dân đọc được các chữ Hán, chữ Nôm viết trên các chùa chiền, đình, miếu của nơi mình ở, những nơi có thể biến thành các bảo tàng của cộng đồng, giúp người dân hiểu được lịch sử của địa phương mình.
Tôi tin vào sự quan trọng của văn hoá không bị đứt gãy, chỉ có thể có khi người dân đọc được những tư liệu cổ của nước mình. Tôi muốn đạo Khổng được dạy trong một môi trường giáo dục có tự do ngôn luận và tự do học thuật, bên cạnh các văn hoá khác, mà không bị bắt cóc bởi các mưu đồ chính trị (như đang xảy ra ở các Viện Khổng tử của Trung Quốc hoạt động ở Mỹ).
Tôi muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hoá để chèo lái trên biển toàn cầu hoá, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hoá, bị bơ vơ về bản sắc. Họ không cần phải thoát đi đâu cả.


Năm 2012, hai học giả Daron Acemoglu và James A. Robinson của MIT và ĐH Harvard cho ra đời cuốn “Vì sao các quốc gia thất bại”, gây tiếng vang lớn. Những người đang kêu gọi “thoát Á”, “thoát Khổng”, “thoát Trung” nên đọc cuốn này.
Tôi không muốn tiết lộ câu trả lời, nhưng chỉ điều này: theo các tác giả, văn hoá không phải là lý do.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét