Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015


VÀI BỆNH MÃN TÍNH CỦA TRÍ THỨC VIỆT

Nguyễn Quang Dy



Ngày nay, các bác sỹ thường khuyên chúng ta phải kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu không muốn bị đột tử ( tim mạch) hay mắc các bệnh nan y (như ung thư). Trong “thế giới phẳng”, Tom Friedman cũng khuyên các doanh nghiệp phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên, nếu muốn tồn tại và phát triển. Không biết giới trí thức Việt có kiểm tra sức khỏe và khám bệnh thường xuyên không, và có thừa nhận bệnh tật của mình không?

Có lẽ việc này cần hơn là “định nghĩa lại trí thức”. Tại sao phải định nghĩa lại? Chẳng lẽ lâu nay chúng ta không biết trí thức là gì, là ai, và làm gì. Đã qua rồi cái thời ông Mao điên rồ và xảo quyệt nói bậy: “trí thức không giá trị bằng cục phân”, hay cái thời mấy ông Việt Minh ngây ngô và cuồng tín, bắt chước ông Mao: “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ. Họ không hiểu vùi dập trí thức là đồng nghĩa với tự sát quốc gia.

Tuy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, bởi căn nguyên là cực đoan và cuồng tín chưa chết, vẫn còn lẩn khuất trong chính chúng taNếu chịu khó quan sátta có thể nhận diện một số căn bệnh mãn tính điển hình của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt. Họ là thành phần ưu tú của quốc gia, làm đầu tàu thúc đẩy tiến bộ xã hội, nên cần quan tâm và khám bệnh, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen (mấy ông này uống và hút dữ lắm!). 

Những nhận xét dưới đây có thể đúng, có thể sai, có thể bổ sung, có thể tranh luận, nhưng là cần thiết. Đừng vội phủ định hay khẳng định ngay.

Hay định kiến và chia rẽ

Người ta hay nói (nửa đùa nửa thật) rằng một người Việt thì không thua kém một người nước khác, nhưng ba người Việt thì chắc thua kém một người nước khácBởi vì ba người Việt thường không hợp sức mà chia rẽ, tự phân hóa và vô hiệu hóa nhauKhông hiểu vì sao tính cá thể của người Việt rất cao, nhưng tính cộng đồng rất thấp. Đây là một nghịch lý mang bản sắc Việt Nam (không giống người Trung Hoa). Cũng chưa thấy tài liệu nghiên cứu nào phân tích xem đây là do tính bản địa, hay là do ảnh hưởng của văn hóa Pháp (xin lỗi mấy ông Tây nhé!) Chỉ biết rằng người Việt có tiếng là hay định kiến và chia rẽhay cãi nhau không ai chịu ai. Càng trí thức, càng hay cố chấp và chia rẽ khỏe. Chưa thể lý giải ngay được, nhưng có thể do cực đoan và bảo thủ. Làm việc nhóm rất khó, không phát huy được nội lực và không kết nối được năng lượng (synergy). Rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Có lẽ vì biết như vậy nên cụ Hồ mới nhấn mạnh đoàn kết “như con ngươi của mắt mình”, nghĩa là không đoàn kết thì mù luôn. Hy vọng Việt Nam không phải là một “thung lũng mù”!

Gần đây, đáng mừng là đã xuất hiện một số hội đoàn độc lập theo hướng dân chủ hóa và cởi mở hơn, như xã hội công dân. Nhưng đáng buồn là các hội đoàn mới này cũng khó phát triển nhanh và mạnh được. Không phải chỉ vì số lượng ít, nguồn lực thiếu thốn, bị chính quyền ngăn cản, mà bản thân nội bộ cố chấp và chia rẽ, rất khó đồng thuận để có tiếng nói chung. Nghe nói vừa mới hình thành đã cãi nhau rồi. Chưa cần bên ngoài phá, bên trong đã tự phân hóa rồiCó lẽ cũng vì vậy mà hòa hợp và hòa giải dân tọc mới khó thế. Khi nói đến dân trí, người ta thường hiểu theo nghĩa cộng đồng chứ không phải từng cá thể. Nếu cứ định kiến và chia rẽ như vậy thì làm sao có thể nâng cao dân trí, làm sao có thể “thoát Trung”?



Không chịu lắng nghe

Theo nguyên lý truyền thông, lắng nghe quan trọng hơn cả nói, để thu lượm và sàng lọc thông tin cần thiết. Phải bình tâm mới lắng nghe được người khác, để hiểu được cả những điều người khác không nói ra. Điều này càng quan trọng trong thời đại bùng nổ truyền thông kỹ thuật sốMuốn lắng nghe phải khiêm tốn, chân thành, nhạy cảmNgười ta nói xã hội càng “high-tech” thì con người càng phải “high-touch”. Ta thường làm ngược lại. Gần đây, Việt Nam được xếp vào nhóm nước vô cảm nhất thế giới (trong khi chưa “high-tech”). Đa số người Việt, nhất là giới trí thức, chỉ thích nói cho người khác nghe, mà không chịu lắng nghe người khác nói. Một số người còn hay “xoa đầu” và dạy bảo người khác (nhất là đối với lớp trẻ)Họ thường vô cảm, không hiểu được người khác muốn gì, nghĩ gì. Thế hệ già không hiểu thế hệ trẻ. Bắc - Nam, trong - ngoài, không hiểu được nhau. Thói quen không chịu lắng nghe có thể do thái độ ngạo mạn, coi thường người khác, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai.

Trong bộ máy công quyền trước đây, người ta quen độc quyền thông tin theo cấp bậc. Có một thời, chỉ có lãnh đạo mới được đọc “bản tin tham khảo” (lấy từ các hãng thông tấn nước ngoài). Thời ấy đã qua rồi, nhưng hệ quả của nó vẫn còn, vì hệ tư tưởng cũ chưa thay đổi. Một khi trong đầu đã chứa định kiến gì, thì người ta hay cố chấp, luôn phủ định hoặc khẳng định, mà không cần lắng nghe để tìm hiểu sự thật. Không chịu lắng nghe và chia sẻ thông tin thường dẫn đến định kiến và chia rẽ. Điều đáng nói là không phải chỉ có những người cộng sản (cuồng tín) mà cả những người chống cộng (cực đoan) đều mắc phải căn bệnh mãn tính này. Trí thức mà định kiến và cực đoan thì còn nguy hiểm hơn cả người khác.  
  
Học giả nhiều hơn học thật

Chưa thấy ở đâu người ta coi trọng bằng cấp và học hàm học vị một cách cực đoan như ở Việt Nam. Giới thiệu ông trí thức nào mà thiếu cái tít “GSTS” là toi. Trong khi đó dân chúng gọi GSTS là “gà sống thiến sót” (xin lỗi không phải tôi nói!). Vì vậy, nhu cầu “học giả” và làm “bằng giả” trở thành một thị trường ngầm phát đạt, như một khối u mãn tính, làm mấy đời bộ trưởng giáo dục đành chào thua. Điều đáng nói là nó không chỉ phổ biến trong nhà trường mà còn trong giới công chức và trí thức. Một quốc gia có trên 90 triệu dân (một nguồn tài nguyên quý mà chắc nhiều nước thèm muốn) nhưng chất lượng nguồn nhân lực đang khủng hoảng đến mức báo động. Chúng ta không lo giới trí thức Việt nhỏ bé, nhưng rất lo chất lượng dân trí còn thấp, bị phân hóa và vô hiệu hóa quá nhiều và quá lâu. Vì vậy, trí thức thật thì ít, trí thức giả thì nhiều. Giới trí thức Việt giống như một bức tranh “mosaic” nhiều màu sắc khó tảrất đặc thù chẳng giống ai, mang đậm “bản sắc” Việt Nam.

Nguồn gốc trí thức Việt đại khái có mấy thế hệ. Thế hệ những người “học tây thời trước (cả Bắc lẫn Nam) là trí thức thật, nhưng vừa quá ít vừa “quá date” (passé rồi), nếu chưa chết hoặc không nhanh chân ra nước ngoài thì cũng đãbị vô hiệu hóa bởi thời thế hoặc thời gian. Thế hệ thiếu sinh quân” (thời chống Pháp) được chọn đi học Trung Quốc/Liên Xô, đa số đã trở thành quan chứcmột số khác có tài đã trở thành trí thức thật, nhưng nay đã về hưu. Thế hệ “học Đông Âu” (thời chiến tranh với Mỹ), tuy đông nhưng bị phân hóa, đa số thực dụng buôn bán kinh doanh giàulên nhanh như “tướng soái”, một số trở thành tư bản đỏ (đang lũng đoạn thị trường), nhưng vẫn giữ cái mũ phó tiến sĩ hoặc tiến sĩ dổm, một số khác có tài theo đuổi khoa học nghệ thuật, thường bị vô hiệu hóa, hoặc phải nhập quốc tịch nước khác. Thế hệ đi học các nước “phương tây” (sau chiến tranh) ngày càng đông và đa dạngđa số kinh doanhmột số làm công chức, một số khác làm cho nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài. Trí thức người Việt sống ở nước ngoài là một nguồn nhân lực quan trọng, có nhiều nhân tài, có lòng ái quốc, có thể đóng góp nhiều hơn cho đất nước và làm cầu nối với thế giới, nhưng chưa được thực sự trân trọng. 



Im lặng trùm chăn

Trong bối cảnh xã hội chuyển đổiđầy biến động và rủi ro, giới trí thức thường là đội ngũ tiên phong dẫn dắt xã hội đổi mới và phát triểnNhưng đáng tiếc, giới trí thức văn nghệ sĩ Việt đã bị “thui chột” sau những kinh nghiệm đau buồn như “cải cách ruộng đất” và “nhân văn gia phẩm”, nên đa số thường “trùm chăn”, không dám lên tiếng, vì sợ. Đây là cái sợ titàng đã đi vào tiềm thức ít nhất hai thế hệ, nên muốn thoát khỏi nó phải can đảm để phản tỉnh. Đến nay, hệ thống kiểm soát và kiểm duyệt (văn hóa tư tưởng) về cơ bản vẫn chưa thay đổi, với hồ sơ nhân quyền đang là vấn nạn trong quan hệ với Mỹ và phương Tây (giống như vấn đề MIA trước đây). Trong bối cảnh đógiới trí thức văn nghệ sĩ “trùm chăn” là dễ hiểu. Quá trình phản tỉnh để thoát khỏi nỗi sợ không đơn giản, tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Có những người đến cuối đời mới dám lên tiếng nói ra sự thật (như tác giả “Đèn Cù”).

Bên cạnh đa số im lặng trùm chăn (silent majority), có một thiểu số lớn tiếng (vocal minority). Những người đã định cư ở nước ngoài thường “dũng cảm” hơn và “lớn tiếng” hơn những người trong nước. Một số quá khích và nôn nóng muốn thay đổi ngay. Một số khác trong lòng còn nặng hận thù và cố chấp, chỉ thích chửi nhưng không đề ra được giải pháp. Ai cũng muốn thay đổi, nhưng nếu không có giải pháp khả thi, thì thành viển vông. Vì vậy, cần tránh cả khuynh hướng “trùm chăn” lẫn “quá khích”. Nếu bình tâm nhìn kỹ thì quá trình dân chủ hóa trên thế giới tuy đa dạng và phức tạp, nhưng có quy luật, cần thời gian. Qua kinh nghiệm nhiều nước đã chuyển đổi (trong 40 năm qua) người ta thấy cách tốt nhất là đấu tranh ôn hòa, thông qua “Bất tuân Dân sự”. Phong trào dân chủ gần đây tại Hong Kong là một ví dụ, khác nhiều so với thời Thiên An Môn. Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, muốn đấu tranh hiệu quả phải có dân trí cao,  ứng dụng công nghệ cao, dùng “sức mạnh mềm” đối phó với “sức mạnh cứng”, biết kết nối quốc tế để vận dụng sức mạnh toàn cầu (global synergy).   

Hội nhập quốc tế chậm

Trong thời đại toàn cầu hóa, giới trí thức đáng lẽ phải hội nhập quốc tế nhanh hơn những nhóm người khác, để dẫn dắt họ trong quá trình đổi mới và phát triểnĐáng tiếc, giới trí thức Viêt hội nhập quốc tế hơi chậm so với các nước khác đang chuyển đổi. Có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chính sách kiểm soát và kiểm duyệt chặt chẽ với các quy định lạc hậu, không khuyến khích và tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập quốc tế. Thứ hai, bị đóng cửa quá lâu nên giới trí thức bị “nội địa hóa” quá nhiều, một số mang tâm lý bài ngoại, không quen hội nhập. Thứ ba, hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cũng làm cho việc giao lưu, hội nhập của trí thức với thế giới bên ngoài khó khăn. Tuy nhiên, thế hệ trí thức trẻ học tại các nước Phương Tây sau này ngày càng đông,  riêng học tại Mỹ đến nay là 16.500 người (sau 20 năm). Họ không bị hàng rào ngôn ngữ và văn hóa cản trở, giao lưu và hội nhập dễ dàng. Đây là một nguồn nhân lực và một lớp trí thức mới quan trọng, nhưng chưa được coi trọng đúng mức.

Trong thời đại toàn cầu hóa và truyền thông kỹ thuật số, liên kết và giao lưu quốc tế vô cùng quan trọng, giúp cho những người trí thức mở rộng tầm nhìn, không kỳ thị dân tộc, ngăn ngừa xu hướng dân tộc cực đoan và bạo lực giữa các quốc gia. Theo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, chỉ khi nào giới trí thức trưởng thành như một thế lực mạnh trong xã hội, và nhân tài được trọng dụng như tài sản quốc gia, thì đất nước đó mới thực sự phát triển. Nhưng trước hết, giới trí thức Việt cần chữa trị các bệnh mãn tính nói trên.      

NQD. 7/7/2015
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 10-7-15


Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015


HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TÍNH
VÀ QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO

Tâm Diệu biên soạn

Lời Ban biên tập: Trong ba ngày qua chúng tôi nhận được emails của độc giả hỏi về 
quan điểm của Phật Giáo về vấn đề hôn nhân đồng giới tính được công nhận trên toàn 
nước Mỹ bởi phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Xin được trả lời chung qua 
bài viết này:


Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã chính thức phán quyết rằng hôn nhân đồng giới tính là quyền hợp pháp trên toàn nước Mỹ.
Như vậy tính cho đến nay đã có 21 nước trên thế giới có hôn nhân đồng giới tính được luật pháp quốc gia sở tại công nhận (Netherlands, Belgium, Spain, Canada, South Africa, Norway, Sweden, Portugal, Iceland, Argentina, Denmark, France, Brazil, Uruguay, New Zealand, Britain, Luxembourg, Finland, Ireland) và Hoa Kỳ là nước thứ 21 đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính vào ngày 26 tháng 6 năm 2015 vừa qua. [1]

Đồng tính luyến ái (homosexual) được các nhà triết học định nghĩa là những ước muốn tình dục hướng tới những người cùng giới tính đồng thời giảm đi sự thích thú tình dục đối với những người khác giới và hôn nhân đồng giới tính (same-sex marriage) là sự kết hợp giữa một người nam với một người nam hoặc giữa một người nữ với một người nữ.

Bao nhiêu năm nay, hôn nhân giữa hai người đồng giới tính vẫn là một trong những vấn đề chính trị nhạy cảm ở Hoa Kỳ, nhưng nay Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã chính thức phán quyết rằng hôn nhân đồng giới tính là quyền hợp pháp trên toàn nước Mỹ.
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã công khai ủng hộ việc hai người nữ hay hai người nam có thể kết hôn với nhau. Ông là vị Tổng Thống Hoa Kỳ đầu tiên ủng hộ việc hôn nhân đồng giới tính. Để giải thích việc này, ông cho rằng tư duy của ông đã “tiến hóa” và quan điểm (của ông) đã mở rộng theo thời gian.

Trước sự kiện quan trọng này các nhà lãnh đạo Thiên Chúa giáo La Mã tại Hoa Kỳ bày tỏ sự không hài lòng với phán quyết của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ về việc cho phép những người đồng giới tính quyền kết hôn. “Bản chất của hôn nhân cuả loài người vẫn không thay đổi và không thể thay đổi, Chúa Giêsu Kitô, chúa của tình yêu, đã dạy rõ ràng rằng hôn nhân ngay từ khởi đầu là sự hợp nhất suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà," Đức Tổng Giám Mục Joseph Kurtz của Louisville, chủ tịch hội đồng các giám mục Hoa Kỳ cho biết. [2] Tuy nhiên, nhà thần học hàng đầu của nước Mỹ, Paul Lakeland của trường đại học Fairfield University nói rằng “chẳng có cơ sở thần học nào biện minh cho lập trường của các giám mục Hoa Kỳ phản đối hôn nhân đồng giới tính”. [3]

Tưởng cũng nên biết, theo các tài liệu chính thức của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ thì hôn nhân không xuất phát từ Giáo Hội hay nhà nước, nhưng từ Thiên Chúa. Do đó, cả Giáo Hội lẫn nhà nước đều không có quyền thay đổi ý nghĩa và cấu trúc cơ bản của hôn nhân. “Hôn nhân đã được thiết lập bởi Thiên Chúa, là một sự kết hiệp trung tín, độc quyền và suốt đời giữa một người nam và một người nữ được kết hiệp trong một một cộng đoàn mật thiết của đời sống và tình yêu.” [4] Trong Cựu ước, Thượng đế nhấn mạnh đến một ước muốn sáng tạo của Ngài rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều…” [5] Theo Thánh kinh Cựu ước, việc truyền giống tạo ra kẻ nối dõi là việc làm có giá trị, cần được đề cao. Duy trì tình trạng không vợ chồng là điều đáng xấu hổ.

Vậy còn Phật giáo đối với vấn đề này như thế nào? Phật giáo lên án hôn nhân đồng giới tính? Hoàn toàn không. Đối với Phật Giáo, đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ, bình đẳng và không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, mầu da và giới tính. Với nguyên tắc thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, Phật giáo không chủ trương xét xử, không chống đối hay chỉ trích (lên án) người khác, đơn thuần chỉ dựa trên tính chất của người đó, vì điều này được xem như là một sự phê phán thiên vị và không công bằng. Vì thế, xuyên qua những lời giảng dạy của Đức Phật, chúng ta không thấy Ngài phê phán hay lên án những người đồng giới tính về phương diện đạo đức.

Trong đạo Phật, có hai giới Phật Tử, Phật tử tại gia và Phật tử xuất gia.
Đối với hàng Phật Tử tại gia, hôn nhân và sinh con được xem là tích cực, nhằm xây dựng một đời sống hạnh phúc gia đình của đời này và đời sau, nhưng không có nghĩa là bắt buộc. Trong giới luật áp dụng cho hàng cư sĩ tại gia, không có điều luật hay lời khuyên nhủ nào về vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Đối với hàng Phật tử xuất gia, những người đã từ bỏ nếp sống gia đình, phát nguyện sống đời sống độc thân, quyết chí tu hành giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, nên bị ràng buộc trong tổ chức Tăng đoàn qua bộ luật Tỳ Kheo. Theo bộ luật này, Dâm Dục là giới cấm đầu tiên trong bốn giới “Ba La Di” mà bất cứ vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni nào phạm phải giới này đều bị trục xuất hay bị khai trừ vĩnh viễn ra khỏi cộng đồng Tăng đoàn. Dâm Dục được định nghĩa là bất cứ loại hoạt động tình dục nào, cho dù đó là cùng giới tính hay khác giới tính, kể cả với loài vật.

Có thể do nguy cơ gây xáo trộn đời sống thanh tịnh của Tăng đoàn, làm cản trở tiến trình tu tập của các thành viên, nên những người đồng tính luyến ái, trong đó bao gồm cả người ái nam ái nữ và cả loại người mà kinh điển Pali gọi là Pandakas, không được thọ giới Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni, tức là không cho vào hàng ngũ Tăng đoàn.

Tuy nhiên, “Đức Dalai Lama chỉ ra rằng, những giới cấm của Phật ứng dụng tùy vào thời gian, nền văn hóa và xã hội mà con người ở đó tuân hành. Chẳng hạn, các vị Tỳ kheo mặc áo hoại sắc bởi vì vào thời điểm đó, nó phù hợp với người nghèo Ấn Độ. Ngài kiến nghị: “Nếu đồng tính luyến ái là một phần trong các tiêu chuẩn được cộng đồng thừa nhận, thì điều đó cũng có thể được chấp nhận. Thế nhưng, không một cá nhân hay vị thầy nào có thể tự thay đổi giới luật. Tôi cũng không đủ thẩm quyền tái định nghĩa những giới điều đó bởi vì không ai có thể quyết định hay ban hành sắc lệnh”. Ngài kết luận: “Việc xác định lại như thế chỉ được quyết định trong một hội nghị Tăng già với sự có mặt của tất cả các trường phái Phật giáo. Điều này không phải chưa từng có trong lịch sử Phật giáo khi muốn xác định lại một vấn đề, nhưng nó phải được thực hiện ở cấp độ tập thể”.
Ngài nói thêm, điều đó thật hữu ích để nghiên cứu sâu hơn nguồn gốc của giới luật về đề tài tính dục. [6]

Trong cuộc thăm dò dư luận mới nhất của viện Gallup [7] trước ngày Tối Cao Pháp Viện phán quyết về vấn đề hôn nhân đồng giới tính cho biết đa số người Mỹ (60%) tin rằng hôn nhân đồng giới tính sẽ được luật pháp công nhận với các quyền giống như hôn nhân truyền thống. Trong khi đó chỉ có 37% tức khoảng một phần ba người Mỹ không đồng ý. Điều này cho thấy quan điểm của người dân Hoa Kỳ đã mở rộng theo thời gian.

Riêng đối với Phật Giáo nói chung, những người tu theo đạo Phật tin rằng, mọi sự mọi vật trên thế gian là vô thường, cuộc sống nhân sinh cũng chuyển dịch biến hoá không ngừng và tuỳ theo nghiệp của mỗi chúng sinh, giới tính có thể thay đổi từ giới này sang giới khác như người nam trở thành người nữ hay ngược lại và chuyển dịch từ đời này sang đời khác.[8] Ngay cả hiện tại cũng đã có nhiều người hoặc tự mình thay đổi với sự trợ giúp của y khoa hay tự nhiên thay đổi giới tính. Dù thế nào chăng nữa cũng không ra ngoài nhân quả. Mỗi người đều mang trong mình cái nghiệp, nghiệp lành, nghiệp dữ mình làm mình chịu, có gieo nhân tất có quả. Theo lý này, nếu một người thương yêu một người nào đó, dù cùng giới tính hay khác giới tính đều là có nhân duyên nợ nần với người đó ở quá khứ. Chính nhân duyên và nợ nần quá khứ thúc đẩy người ta tìm đến nhau và thương yêu trong hiện tại. Đó là quan hệ nhân quả bình thường.

Nếu chúng ta tin tưởng vào nhân quả nghiệp báo thì chúng ta có thể chuyển đổi được nghiệp quả của mình từ xấu thành tốt, kể cả từ giới tính này sang giới tính khác bằng cách tu tập những điều mà giáo lý nhà Phật chỉ bảo, như “Làm tất cả việc lành, không làm các điều ác và tự thanh tịnh hoá tâm”.

Tâm Diệu

Chú thích:


[4] Sách Giáo Lý Công Giáo – số 1602-1605
[5] Sáng thế ký 1.22
[6] Damien Keown - Gia Quốc dịch
[8] Trong kinh Phật có kể lại mẫu chuyện ông Soreyya từ nam biến thành nữ và từ nữ biến thành nam, mỗi lần như vậy đều có gia đình và có con, sau đó xuất gia chứng đắc đạo quả. http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-119_4-16158_5-50_6-1_17-27_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015


ĐỂ ÁP CHẾ NGƯỜI DA ĐEN,
TÍN ĐỒ CƠ  ĐỐC GIÁO DA TRẮNG ĐÃ S DỤNG
KINH THÁNH VÀ LÁ CỜ LIÊN MINH RA SAO?

Carol Kuruvilla / The Huffington Post


Vào ngày 4 tháng giêng, năm 1861, Giám Mục Công giáo A.Verot bước lên tòa giảng trong nhà thờ Thánh Augustine, thuộc bang Florida, để bênh vực người da trắng được quyền có nô lệ.
Trong bài giảng, Giám Mục Verot nóí rằng thánh Tông đồ Phao Lồ đã dạy dân nô lệ phải tuân phục chủ nhân ông “như một phương cách cần thiết” để được cứu rỗi. Ngài đã dẫn chứng thánh thư đoạn Colossians 3:22. Ngài nói, Hỡi các tên nô lệ, phải tuân phục ông chủ các ngươi bằng chính xương thịt, chứ không chỉ qua loa để làm vửa lòng, phải [phục vụ] với tất cả tấm lòng, và phải biết kính sợ Thượng Đế.”  

Không còn phải che đậy nữa, hàng trăm vị Mục sư Cơ đốc giáo cũng đã dùng cùng một luận cứ như Giám Mục Vernot, đã áp dụng Kinh Thánh nhằm biện minh cho chế độ nô lệ trong suốt cuộc chiến tranh Nam Bắc tại Mỹ. Nhưng cuộc thảm sát 9 đồng bào da đen trong tuần qua tại nhà thờ Emanuel Atrican Methodist Episcopal thuộc thị xã Cherleston, bang South Carolina [Hoa Kỳ], lại một lần nữa, buộc người da trắng Mỹ phải xét lại mối liên hệ lịch sử giữa Hội thánh da trắng với chủ nghĩa kỹ thị chủng tộc - và vì sao luận điệu hùng hồn đầy hận thù như lời giảng của Vernot nhờ phát ra từ toà giảng lại có sức lôi cuốn như vậy.  

Theo giáo sư Stout, vốn đang dạy Lịch sử Tôn giáo Mỹ tại đại học Yale, thì những người Cơ đốc giáo miền Nam không những chỉ ủng hộ chế độ nô lệ mà chính Giáo hội Cơ đốc giáo Miền Nam là trụ cột của Liên Minh và họ cố kìm những người Mỹ gốc Phi châu trong vòng nô lệ. Vị giáo sư này đã tuyên bố với báo Huffington rằng Nếu tách Hội thánh ra khỏi bài toán [lịch sử lúc đó] ắt chúng ta đã không có nội chiến. Các giáo sĩ Miền Nam đã tin chắc rằng chế độ nô lệ không phải là tội lỗi.

Sau khi thua trận, những người da trắng Miền Nam và các vị lãnh đạo tôn giáo đã cố làm mới bộ mặt Hội thánh bằng cách níu kéo một mối đạo không còn chính nghiã - lập luận rằng Miền Nam đã chiến đấu chính nghĩa vì họ không nhằm kìm kẹp dân nô lệ, vì quyền lợi của Liên Minh, hay  tự vệ chống trả bọn xâm lược Phương Bắc. Họ bắt đầu tôn sùng các anh hùng liệt sĩ Liên Minh và trân qúi lá cờ của mình.

Tuy nhiên, khi mà lá cờ Liên Minh vẫn phấp phới trong khu hành chánh thủ đô bang South Carolina, thì nó vẫn còn là biểu tướng phân biệt chủng tộc đáng lên án 

Các nhà vận động da đen cùng nhiều người khác coi đó như biểu tượng của áp chế và là một nhắc nhở về một chính quyền chỉ muốn kìm hãm mãi mãi dân da đen trong vòng nô lệ. Trong bài viết đăng trên báo Atlantic, tác giả T-Nehisi Coates gọi lá cờ của Liên Minh là  “biểu tượng sự thống tri của dân da trắng

Những người bênh vực lá cờ Liên Minh thường viện lý rằng nó tượng trưng cho ‘một di sản chứ đâu phải là sự thù hận.’ Tôi đồng ý như vậy -  đó là di sản lấn át của người da trắng không phải bắt đầu bởi sự thù hận mà là động cơ dẫn tới cướp bóc.
Lập luận hùng hồn về quyền-uy-da-trắng-được-Chúa-tán-đồng nầy lại được lập đi lập lại tại các thánh đường ở khắp Miền Nam.

Trong khi Thiên Chúa bị loại ra khỏi đoạn mở đầu của hiến pháp Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, thì  các nhà lãnh đạo của Liên Minh Miền Nam lại cố tình gợi lại quyền uy của Thiên Chúa này trong hiến pháp của họ. Thật rõ ràng là ngay từ khởi thủy họ đã coi Cơ đốc giáo là một thành tố của liên minh nhằm duy tri chế độ nô lệ.

Các vị lãnh đạo Cơ đốc giáo miền Nam muốn nhắc lại sự hiện hữu của chế độ nô lệ trong kinh Cựu Ước cùng các thánh ngôn của thánh Tông Đồ Phao Lồ nhầm dạy dỗ những kẻ nô lệ phải biết vâng lời các chủ nhân ông. Giáo sư Sout cho biết trong khi một số mục sư cho rằng chế độ nô lệ là một tội lỗi cần thiết thì nhiều vị khác còn đi xa hơn khi nói rằng dân da đen sẽ còn tiếp tục làm nô lệ trên thiên đường. Họ đã truy cứu ngược lại cơ sở thần học về sự tích ông Nôê (Noah) và người con tên Ham vì cho rằng đã chế diễu cha hắn mà bị đày xuống trần gian làm nô lệ.

Sau cuộc nội chiến, Hội thánh đã lên tiếng quá chậm chạp chống lại tệ phân biệt chủng tộc, và phải cho tới sau khi có phòng trào vận động nhân quyền, tệ nạn kỳ thi chủng tộc mới từ từ biến khỏi các tòa giảng tại Miền Nam.

Năm 1845, Hội Nghị Bắp-Tít miền Nam đã tách ra vì hội thánh Bắp-Tít miền Bắc từ chối không cho các chủ nô lệ được trở thành các nhà truyền giáo. Ngày nay, chi phái Tin Lành lớn nhất Hoa Kỳ là Hội thánh SBC (Hội thánh Bắp-Tít Miền Nam) đã dành nhiều thời gian để xét lại quá khứ của mình. Năm 1995, Hội thánh đã thông qua một nghị quyết chính thức xin lỗi vì đã ủng h cũng như đã vinh danh cá nhân và cơ chế kỳ thị chủng tộc trong cuộc đời chúng ta.

Qua những cuộc thảm sát tai Charleston, ông Russel Moore, chủ tịch Ủy Ban Đạo Đức và Tự do Tôn giáo của Hội Thánh Cơ đốc Miền Nam, đã kêu gọi tín hữu Cơ đốc giáo miền Nam hãy từ bỏ mối quan hệ văn hóa với lá cờ Liên Minh.

Tuần qua, ông Moore viết trong một bài bình luận rằng “Lá cờ chiến đấu của Liên Minh là tượng trưng cho Jim Crow, người giám thách thức phong trào nhân quyền, cũng như của Dixiecrat, người chống lại sự hoà hợp các sắc dân, và của sự khủng bố trong nước thuộc nhóm Ku Klux Klan và Hội Đồng Công Dân Da Trắng trong lich sử cận đại quá khủng khiếp của chúng ta. Những người Cơ đốc giáo da trắng phải suy xét là lá cờ kia đã nói gì với anh chị em da đen trước Thiên Chúa, nhất là sau hành động của bọn khủng bố da trắng chống lại những anh chị em da đen.



How White Christians Used The Bible -- And Confederate Flag –
To Oppress Black People

The Huffington Post  |  By Carol Kuruvilla
Posted: 06/22/2015 4:43 pm EDT Updated: 06/22/2015 5:59 pm EDT

On Jan. 4, 1861, a Catholic bishop named Rev. A. Verot ascended a pulpit in The Church of St. Augustine, Florida, and defended the right of white people to own slaves.

The apostle Paul, Verot claimed in his sermon, instructs slaves to obey their masters as a “necessary means of salvation.” Quoting Colossians 3:22, he said, “Servants, obey in all things your masters according to the flesh, not serving to the eye, as pleasing men, but in simplicity of heart, fearing God.”

It's no secret that hundreds of Christian pastors like Verot used the Bible during the Civil War to justify slavery. But the massacre last week of nine black people inside Emanuel African Methodist Episcopal Church in Charleston, South Carolina, has once again forced white Christians in America to re-examine the white church’s historical ties to racism -- and how hateful rhetoric like Verot's had more power because it came from the pulpit.

White Christians in the South didn't just support slavery -- the Southern church was the backbone of the Confederacy and its attempts to keep African Americans in bondage, according to Harry Stout, Jonathan Edwards Professor of American Religious History at Yale University.

"If you pull the church out of the whole equation, it’s highly likely that there never would have been a Civil War,” Stout told The Huffington Post. “Southern clergy had no doubt that slavery was not a sin.”

After they lost the war, white Southerners and their religious leaders tried to recast it by observing the “religion of the lost cause” -- arguing that the South fought righteously not to keep slaves in chains, but to fight for states’ rights or to protect themselves from Northern aggression. As part of this “lost cause” religion, they began to idolize fallen Confederate war heroes and celebrate the Confederate flag.

But the Confederate flag -- which is still flying over South Carolina’s Capitol grounds -- continues to be a racially charged symbol.

Black activists and many others consider it a symbol of oppression, and a reminder of a government that longed to keep black people in chains forever. In a piece for The Atlantic, writer Ta-Nehisi Coates calls the Confederate flag a "symbol of white supremacists."

"The Confederate flag’s defenders often claim it represents 'heritage not hate.' I agree -- the heritage of White Supremacy was not so much birthed by hate as by the impulse toward plunder."
This rhetoric of supremacy sanctioned by God was repeated in churches across the South.

While God was left out of the preamble to the United States Constitution, the leaders of the Confederate States of America made sure to invoke the power of the divine in their own constitution -- making it clear from the start they saw Christianity as an integral part of their new union of slaveholders.

Christian leaders in the South would refer to the presence of slavery in the Old Testament and to verses from the Apostle Paul that instruct slaves to be obedient to their masters. While some pastors thought of slavery as a “necessary evil,” others went so far as to claim that black people would continue to be slaves in heaven, Stout said. They traced their theology back to the story of Noah and his son Ham, who is believed to have mocked his father and been condemned to walk the earth as a servant as a result.

The church was slow to speak out against racism in the years following the Civil War, and it wasn’t until after the civil rights movement that this type of overt racism began to fade from Southern pulpits.

In 1845, the Southern Baptist Convention split away from the church after northern Baptists refused to allow slave owners to become missionaries. Now the largest Protestant denomination in the country, the SBC has in recent years spent a considerable amount of time trying to confront its past. In 1995, the church passed a resolution formally apologizing for “condoning and/or perpetuating individual and systemic racism in our lifetime.”

In light of the attacks in Charleston, Russell Moore, president of the SBC’s Ethics & Religious Liberty Commission, is calling for Christians in the South to forsake their cultural ties to the Confederate flag.

“The Confederate Battle Flag was the emblem of Jim Crow defiance to the civil rights movement, of the Dixiecrat opposition to integration, and of the domestic terrorism of the Ku Klux Klan and the White Citizens’ Councils of our all too recent, all too awful history,” Moore wrote last week in an op-ed. “White Christians ought to think about what that flag says to our African-American brothers and sisters in Christ, especially in the aftermath of yet another act of white supremacist terrorism against them.”