Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013


 

CHẾ ĐỘ NGUYỄN VĂN THIỆU
LÀ MỘT CHẾ ĐỘ DIỆM KHÔNG DIỆM 

Sưu tầm của PhanvanKhai

 
LGT - Đệ nhị Cọng hòa thực chất là một chế độ "Diệm Không Diệm" (cụm từ do Robert Shaplen đặt ra), hàm ý ông Diệm đã "đi rồi" nhưng bầy tôi của ông và lực lượng Cần lao Công giáo "ác ôn" (chữ của đồng bào miền Trung) đã thành công trong việc trở lại khuynh loát và khống chế để lãnh đạo chính trường miền Nam từ năm 1966-1975.

Vì vậy mà khi gọi "miền Nam được lãnh đạo bởi 2 ông Tổng thống Công giáo" là không sai. Và "miền Nam mất vào tay Cọng sản vì Cần Lao Công giáo" là cũng đúng luôn, vì chính trường và chiến trường miền Nam trong 7 năm cuối cùng, kể từ năm 1966, là do thủ hạ Công giáo cũ của ông Diệm ở “thượng tầng lãnh đạo” thao túng.

Trong một chế độ quân phiệt, lại đang thời chiến, quyền hành đương nhiên tập trung vào vị nguyên thủ áo kaki, vì vậy mà căn cước của chế độ Đệ nhị Cọng hòa thật sự nằm ở Dinh Tổng thống (báo chí gọi là “Phủ Đầu Rồng” để đối với “Dinh Thái Thú” là Tòa Đại sứ Mỹ) chứ không phải trên bản Hiến Pháp hoặc các định chế dân cử.

Ai ngồi ở Dinh Tổng thống ? Ai là cận thần đầy quyền lực ra vào Dinh Tổng thống ? Ngoài ông Tổng thống Công giáo “đạo theo” Nguyễn văn Thiệu, bài viết nầy nhằm điểm mặt 8 nhân vật Công giáo khác trong Thượng tầng lãnh đạo của Đệ nhị Cọng hòa, đồng thời cũng nhận diện những cấp chỉ huy quân đội Công giáo cao cấp nào đã thao túng Quân lực VNCH.

Miền Nam kiệt sức vì độc tài, băng hoại vì tham nhũng, khủng hoãng vì mất chính nghĩa, và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời ngày 20-12-1960 tại Tây Ninh… Thế mà ông Diệm lại đẩy cao chính sách kỳ thị Phật giáo, đàn áp các đảng phái Quốc gia, chia rẽ Quân đội thành Cần lao và phi-Cần lao, dung dưởng cho gia đình và thủ hạ tham nhũng … đến nỗi 18 nhân sĩ (mà hầu hết là cựu đồng chí và/hoặc đã từng hợp tác với ông Diệm) phải lên tiếng cảnh cáo ông về tình trạng nguy ngập của miền Nam (Tuyên Ngôn "Caravelle" của tập hợp Tự Do Tiến Bộ ngày 26/4/1960). Cho nên chỉ không đến 10 tháng sau khi Việt Cọng ra đời, ngày 10-10-1961, tình hình an ninh quốc gia đã nguy ngập đến nỗi chính ông Diệm chứ không ai khác đã phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ VNCH (sắc lệnh 209-TTP). Rồi năm tháng sau đó, ngày 31-3-1962, không cứu vãn được tình hình nguy khốn, cũng chính ông Diệm chứ không phải ai khác đã phải gửi thông điệp cho 92 quốc gia trên thế giới yêu cầu ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa chống xâm lăng Cộng Sản [Đoàn Thêm, Những ngày chưa quên, Đại Nam 1969].  Rõ ràng ông Diệm đã hoàn toàn thất bại trong việc đoàn kết dân tộc để cùng Mỹ chống Cọng.  

Thế rồi để cứu vản miền Nam, anh em ông Diệm làm gì ? Thay vì dân chủ hóa bộ máy cầm quyền để tăng hiệu năng chống Cọng, gia đình ông cứ tiếp tục cách cầm quyền độc tài càng lúc càng tàn bạo của ông đến nỗi Quân đội lại phải mạnh mẽ phản ứng lần nữa (vụ ném bom Dinh Độc Lập của 2 phi công Quốc và Cữ ngày 27-2-1962), Phật giáo phải kêu gọi bình đẳng tôn giáo (Nguyện vọng 5 điểm của Phật tử Huế ngày 9-5-1963), đảng phái quốc gia đã phải tố cáo ông quyết liệt hơn (Nhất Linh Nguyễn Trường Tam tử tử ngày 7-7-1963).

Thất bại thê thảm của trận Ấp Bắc (đầu năm 1963, cách Sài Gòn 65 km) đã là một đòn quân sự - chính trị chí tử đánh vào khả năng lãnh đạo của chính phủ Diệm trước dân chúng trong nước và dư luận thế giới. Cuộc đàn áp các chùa Phật giáo trên toàn quốc (Chiến dịch Nước Lũ đêm 20-8-1963) đã là một đòn chính tri-ngoại giao chí tử khác đánh vào thế chính thống và uy tín ít oi còn sót lại của tập đoàn lãnh đạo Dinh Gia Long. Giáo hoàng Paul VI  Vatican lên tiếng tách rời (disassociation) khỏi chính phủ Diệm, diễn đàn Liên Hiệp quốc  một số quốc gia đồng minh công khai tố cáo chính sách kỳ thị tôn giáo của ông Diệm, chính giới và công luận Mỹ đặt vần đề hiệu năng viện trợ Mỹ để miền Nam chống Cọng, một bộ phận trong chính quyền Kennedy tạo áp lực để ông Diệm thay đổi chính sách và nhân sự lãnh đạo (đặc biệt với ông bà Cố vấn chính trị Nhu) …

Để tháo gở và vượt thoát được cơn khủng hoảng vừa đối nội vừa đối ngoại đó, anh em ông Diệm đã chủ quan tính sai một nước cờ nên đã lấy một quyết định liều lĩnh, dại dột và phản quốc nhất trong cuộc đời chính trị của họ: Tìm cách thỏa hiệp với Hà Nội để giải tỏa áp lực của Mỹ và của đối lập chính trị tại miền Nam. Quyết định nầy liều lĩnh và dại dột vì ba lý do:

1.      Mỹ đã “nặn” ra ông Diệm ở  Washington, rồi “bồng” ông về nước. Sau đó, lại đổ kinh viện, quân viện và uy tín quốc gia  để khai sinh và nuôi dưỡng nền Đệ Nhất Cọng hòa trong chiến lược xây dựng một tiền đồn chống Cọng cho Thế giới Tự do, thì làm sao họ để cho ông thỏa hiệp với Cọng sản, phá vở vai trò “tiền đồn” trong cuộc chiến tranh lạnh được. Sau nầy, khi ông bị giết, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã kết luận thật đầy đủ:  Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y.”   [Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965].

2.      Ông Hồ Chí Minh và Đảng Cọng sản Việt Nam đã nằm gai nếm mật, hy sinh bao nhiêu xương máu trong gần 30 năm để làm hai nhiệm vụ đan bện với nhau: Dành độc lập cho dân tộc, và thiết lập chế độ Cọng sản tại Việt Nam cho Quốc tế Cọng sản. Năm 1954, họ đã thành công được một nữa: Đuổi thực dân Tây ra khỏi nước (cho dân tộc) và quản lý miền Bắc (cho Cọng sản Quốc tế). Vậy thì làm sao họ có thể thỏa hiệp với kẻ thù “Mỹ-Diệm” được. Cọng sản quốc tế có cho họ làm không ? Làm sao họ biện minh được với Quân dân và Đảng viên ở miền Bắc ? Họ biết ông Diệm đang mâu thuẫn với Mỹ và đang bị nhân dân miền Nam chống đối nên chỉ mưu mẹo lợi dụng động thái xin thỏa hiệp của chính phủ Diệm để làm suy yếu  thế đồng minh Mỹ-Việt mà thôi (Đọc thêm War of the Vanquished của Mieczilaw Maneli)

3.      Nhưng quan trọng hơn hết là khi thỏa hiệp với Hà Nội, hai ông Diệm-Nhu đã phản bội lại Hiến pháp VNCH 1956 (Theo Điều 7 thì "những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với nguyên tắc ghi trong Hiến pháp"), đã vi phạm luật 10/59 (ban hành tháng 5/1959) mà ông Diệm đã dựa vào đó để đàn áp những chiến sĩ quốc gia cũng chống Cọng nhưng đối lập với ông. Thỏa hiệp với chính phủ Hồ Chí Minh, hai anh em ông Diệm-Nhu còn phản bội gần 800 ngàn đồng bào Công giáo di cư từ miền Bắc vào Nam để trốn Cọng sản, và bao nhiêu chiến sĩ Quân lực VNCH đã hy sinh xương máu để bảo vệ miền Nam.

Tưởng Mỹ không bao giờ dám từ bỏ mình vì đã can dự quá sâu vào miền Nam, tưởng chính phủ Hà Nội đánh giá cao động thái thỏa hiệp, tưởng đã khuất phục được quân dân miền Nam sau 9 năm bạo trị, …. Gia đình ông Diệm (đúng ra lúc đó ông Diệm chỉ là một bù nhìn bất lực, chính hai “tổng thống” Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân mới là kiến trúc sư để thiết kế và) đi “canh bạc chính trị” nguy hiểm và ngu dại nhất đời mình. Nhưng “canh bạc” đó không lừa được kẻ thù, không dấu được đồng minh, và không đánh giá đúng được phản ứng của quân dân miền Nam nên, cuối cùng, anh em ông đã phải đền tội trước lịch sữ và dân tộc. Ngày 1-11-1963, chế độ Đệ nhất Cọng hòa cáo chung.

Trong ba năm sau đó, chính trường miền Nam xáo trộn vì nhiều lý do. Nhưng chủ yếu là vì (i) Như một quy luật lịch sử, chế độ trước càng độc tài áp bức thì chế độ thừa kế phải mất một thời gian rất lâu mới xây dựng và ổn định được sinh hoạt chính trị; (ii) Các tướng lãnh, chính trị gia và các lực xã hội dân sự sau ông Diệm đã phải đối mặt với và tỏ ra bất lực trước một nền dân chủ hỗn loạn vì phôi thai; (iii) Chính phủ Mỹ và Hà Nội quyết định can dự mạnh mẽ hơn cả trong chính trường lẫn trên chiến trường miền Nam. Vì thế mà xáo trộn.

Cũng trong ba năm sau đó, cho đến năm 1966, lực lượng tàn dư của chế độ Diệm đã lợi dụng tình trạng xáo trộn của miền Nam để trở lại chính trường với hai đặc trưng: Lấy Giáo hội Công giáo Việt Nam làm hậu thuẫn và dùng nhóm tàn dư Cần Lao cũ làm lực lượng thao túng chính quyền và xã hội mà cao điểm là sự ra đời của Đệ nhị Cọng hòa. Và họ đã thành công: Hiến pháp 4/1967 tạo cơ sở hình thành chính phủ dân sự đầu tiên để thành lập Đệ nhị Cọng hòa do con chiên Martino Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống ngày 1-11-1967.

Vậy thì chính nền Đệ nhị Cọng hòa với bản chất Cần lao Công giáo đó, mang hỗn danh là “Diệm không Diệm”, đã tồn tại và chịu trách nhiệm về sự sụp đổ của miền Nam vào mùa Xuân năm 1975 ! Nhóm Công giáo hoài Ngô, tàn dư của “Cần Lao ác ôn” ở hải ngoại, đang nỗ lực đánh tráo sự thật nầy để chạy tội là chuyện đương nhiên. Nhưng ai viết lịch sử lương thiện thì xin hãy nhớ điều nầy: Chế độ Nguyễn Văn Thiệu đích thực là một chế độ “Diệm không Diệm”.   

 
CHẾ ĐỘ DIỆM KHÔNG DIỆM

Từ năm 1964, lợi dụng cuộc khủng hoảng chính trị gây ra do một chuổi các cuộc chỉnh lý và những vận động dân sự hóa chính phủ, khối Công giáo bắt đầu hăng hái hoạt động chống đối Phật giáo, chống đối sinh viên, chống đối các Tướng lãnh và chống đối các đảng phái, góp sức gây ra nhiều xáo trộn bất ổn cho đến khi họ lật được chính quyền dân sự của hai ông Phan Khắc Sửu và Phan Huy Quát (thân Phật giáo), tạo lý do và cơ hội đưa dần con chiên Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, dù con chiên đó đã cầm quân đánh cho con chiên Ngô Đình Diệm phải trốn khỏi dinh Gia Long để về trú ẫn tại nhà chú ba Tàu Mã Tuyên ở trong Chợ Lớn hầu chuẩn bị theo kế hoạch của ông Nhu bắt tay với Hà Nội ... để chống Mỹ !

Trong tình hình chính trị xáo trộn lúc đó, ông Nguyễn Văn Thiệu tuy đã nắm được chính quyền nhưng tự biết mình vừa không đủ uy tín vừa không có hậu thuẫn, đã thế còn bị ông Nguyễn Cao Kỳ thù nghịch và chống phá, nên phải thỏa hiệp và “đầu quân” khối Công giáo (trong đó đã có Công giáo Đại Việt) để có hậu thuẫn chính trị hầu đương đầu với các lực lượng đối lập khác.

Sự thỏa hiệp tiện lợi (a convenient compromise) giữa một Nguyễn Văn Thiệu thực tiển (pragmatist)  và khối Công giáo nhiều tham vọng, từ đó, đã biến chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa thành ra một chế độ Diệm không Diệm.

Năm 1966, nền Đệ Nhị Cộng Hòa ra đời. Để nhận diện chế độ này, ta cần điểm mặt thành phần nhân sự lãnh đạo ở thượng tầng cai trị, và cái thế lực hậu thuẫn chế độ đó ở hạ tầng quần chúng.

CỐ VẤN CHIẾN LƯỢC  - Trong một chế độ mà các quyết định sinh tử liên hệ đến vận mệnh quốc gia đều tập trung vào một người chứ không phải vào những Hội Đồng An Ninh, Hội Đồng Nội Các hay Quốc hội, thì vai trò Cố vấn trong những buổi họp kín giới hạn mới là vai trò mấu chốt.
Cố vấn Chính trị và là vị Quân sư Tối cao của ông Thiệu một cách không chính thức trong dinh Độc Lập là Linh mục Cao Văn Luận, nguyên là một công thần của nhà Ngô. Linh mục Luận, dù chỉ mới có bằng cữ nhân tại Pháp, được anh em ông Diệm cho làm Viện trưởng Viện Đại học Huế nhưng đến năm 1963, trước cao trào đấu tranh dũng mãnh và đầy chính nghĩa của Phật giáo, sinh viên và trí thức miền Nam, LM Luận đã phải miễn cưỡng gia nhập theo và ủng hộ Phật giáo nên sau đó bị ông Diệm cất chức Viện trưởng. Mấy năm sau, khi thế lực Công giáo được phục hồi, ông Cao Văn Luận đã bị khối Công giáo chỉ trích thái độ chống chính quyền Diệm trước kia nên bèn tìm cách liên hệ để tiến thân với ông Thiệu và cuối cùng được ông Thiệu tín nhiệm. Với tư cách cựu Viện trưởng Viện Đại học cũ, lại nhờ đi ngoại quốc nhiều nên ông LM Luận được ông Thiệu giao cho nhiệm vụ đặc biệt là giao thiệp, liên lạc và lobby các chính khách Hoa Kỳ, và đặc biệt với Tòa Thánh La Mã. Đã thất bại vì trong quá khứ không được ông Diệm mời làm cố vấn (vì ông Cha Ngô Đình Thục quyền huynh thế phụ chặn đường tiến thân), ông cha Luận nhiều tham vọng nầy (xem « Đầu hàng» của Hồ Sỹ Khuê), từ nay, thõa sức  “cố vấn” cho ông Tổng Thống con chiên ngoan đạo của nền Đệ nhị Cọng hòa.

Hai vị “Cố vấn” chỉ đạo: LM Cao Văn Luận (trái) và GM Nguyễn Văn Thuận

Vị Giám mục cố vấn th nhì là Giám mục Francois-Xavier Nguyễn Văn Thuận (gọi Tổng thống Diệm bằng cậu ruột và cai quản giáo phận Nha Trang). Ông là vị giám mục trẻ tuổi nhất trong hàng giáo phẩm cao cấp của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Sự sụp đổ của chế độ và cái chết của ba người cậu ruột đã làm cho ông trở nên cứng rắn, quyết liệt hơn trong tham vọng xây dựng khối Công giáo trở thành một lực lượng chính trị để nắm lấy chính quyền tại miền Nam và biến miền Nam thành một người con gái hiếu thảo của Giáo hội La Mã tại Á châu (fille ainée de l’Église en Asie) hầu một mặt trả mối thù gia tộc, và mặt khác thì hoàn tất sách lược của các ông cậu trước kia. Những tổ chức Công giáo quốc tế còn tiếc thương gia đình họ Ngô đã ngầm giúp Giám mục Thuận sớm trở thành nhân vật quan trọng của Giáo hội Việt Nam để ông có uy thế và phương tiện hoạt động chính trị. Vì thế, dù là một Giám mục còn trẻ tuổi, ông vẫn được giao phó trọng trách phụ tá Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình. Ông còn được Công giáo quốc tế giao chức Tổng thủ quỹ Caritas, một tổ chức từ thiện tiền rừng bạc biển của Công giáo Hoa Kỳ.
Hầu như Giám mục Thuận không vào Dinh Tổng thống bao giờ nhưng thông qua những chức sắc và tín đồ Công giáo trong chính quyền, ông đã ảnh hưởng nhiều lên các quyết định chính trị quan trọng đến nỗi năm 1974, đích thân ông Thiệu, với tư cách Tổng thống một quốc gia, đã vận động với Vatican để cha Thuận làm Tổng Giám mục điạ phận Sài Gòn vào giữa lúc tình hình miền Nam đang thật sự khủng hoảng (nhưng vận động không thành vì đi ngược với khuynh hướng chủ hòa thân Hà Nội của Đức Giáo hoàng Phaolô VI đang muốn “Phải chấm dứt các cuộc oanh tạc trên lãnh thổ Bắc Việt và đồng thời cũng phải chấm dứt những cuộc xâm nhập vũ khí và vật liệu chiến tranh vào miền Nam.”)
Ngoài ra còn có Linh mục Nhuận và nhóm Nguyễn Đức Xích phụ trách việc theo dõi, dò xét các đảng phái, tôn giáo và những thành phần đối lập rồi báo cáo thẳng cho Tướng Đặng Văn Quang. Linh mục Nhuận là Cha sở thuộc họ đạo Phú Nhuận, sau đó được hai ông Thiệu và Quang đền bù công lao bằng cách giúp tiền bạc để xây cất một giáo đường đồ sộ tân kỳ tại Phú Nhuận, đối diện với ngôi chùa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ của Cao Đài gần cổng số 4 Bộ Tổng Tham Mưu. Còn Thiếu tá con chiên Nguyễn Đức Xích được hai ông Thiệu và Quang can thiệp cho giữ chức “giám sát” trong cơ quan Giám Sát Viện, phụ tá bí mật cho ông Ngô Xuân Tích là bà con của ông Thiệu giữ chức Chủ tịch Viện giám sát. Người phụ tá phụ trách miền Trung cho linh mục Nhuận có tên là Huỳnh Bút vốn là một cán bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng từng được ông Ngô Đình Cẩn mua chuộc trước kia.
Cuối cùng, một linh mục khác mà bà con Nguyễn Phước tộc hầu như ai cũng biết là Linh mục Bửu Dưỡng, vị cố vấn bí mật đặc trách Văn hóa Giáo dục cho chính quyền Thiệu. Bửu Dưỡng là người đã từng cùng với ông Ngô Đình Nhu khai sinh ra cái quái thai “Chủ Nghĩa Nhân Vị Duy Linh” và yểm trợ cho chế độ Diệm tiến hành sách lược “Công giáo hóa miền Nam”. Linh mục Bửu Dưỡng đã tự nguyện đến hợp tác với con chiên Nguyễn Văn Thiệu chỉ một ý đồ là phục hồi lại các nhân sự của chế độ cũ để nắm lấy guồng máy chính quyền mà trả thù Phật giáo. Linh mục Bửu Dưỡng đã được ông Thiệu và Hoa Kỳ giúp đỡ thiết lập Viện Đại Học Minh Đức để cùng với trường Đại học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt của ông Ngô Đình Thục trước kia làm công việc “trồng người” cho chế độ Công giáo trị mới.

CỐ VẤN HÀNH PHÁP  ... Trong dinh Độc Lập có Cố vấn An ninh Tình báo kiêm Cố vấn Quân sự là ông Đặng Văn Quang, người con nuôi tinh thần của Bà Ấm, chị ruột Tổng thống Diệm và là thân mẫu của Giám mục Nguyễn Văn Thuận. Ngoài những chức vụ chính thức ông Quang còn có những nhiệm vụ bí mật là thiết lập kế hoạch và phối hợp công tác của các cơ quan chính quyền để triệt phá các thành phần đối lập với chế độ mà đối tượng số một là Phật giáo. Ông Quang cũng là người điều động một hệ thống tổ chức buôn thuốc phiện lậu để chia lời với ông Thiệu (như ông Nhu trước kia buôn thuốc phiện lậu) để làm giàu mà Tiến sĩ Alfred McCoy đã nói rõ trong The Politics of Heroine in Southeast Asia.
Cố vấn phụ trách Kinh tài là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, Giám đốc hàng thuốc O.P.V., người Công giáo Phú Cam, từng làm Dân biểu gia nô và Kinh tài cho anh em ông Diệm. Nhiệm vụ chính trị của ông Thăng là xây dựng cho ông Thiệu một Quốc hội bù nhìn mà đa số phải là người Công giáo. Chính ông Thăng thay ông Thiệu để giao thiệp, mua chuộc, hướng dẫn và kiểm soát Quốc hội để điều hướng định chế gọi là “dân cử” này ủng hộ đường lối của ông Thiệu. Khi ông Thăng bất thình lình chết vì bệnh ung thư thì phụ tá của ông Thăng trong dinh Độc Lập là ông Nguyễn Văn Ngân lên thay thế. Ông Ngân là người Công giáo Nghệ Tĩnh, bà con của Linh mục Cao Văn Luận. Đúng như giáo sư Nguyễn Khắc Ngữ đã nói trong tác phẩm Những Ngày Cuối Cùng của VNCH, hết Thăng rồi đến Ngân, họ chính là những người nắm giữ tay hòm chìa khóa của quỹ chi tiền cho các Dân biểu, Nghị sĩ và các lực lượng thân chính
Cố vấn An ninh / Tình báo Đặng Văn Quang (trái) và Huỳnh Văn Trọng

Cố vấn Tình báo chiến lược là ông Huỳnh Văn Trọng, tốt nghiệp đại học Luật và là một tín đồ Công giáo xuất thân từ một dòng tu ở Hồng Kông. Dưới thời chính phủ Nguyễn Phan Long (1950), ông Trọng giữ chức Tổng Thư ký chính phủ và vẫn tiếp tục là nhân viên cao cấp dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm. Khi chính phủ Diệm tiến hành chính sách tiêu diệt đảng phái, ông Trọng trở thành đối tượng của chính sách nầy nên phải lánh nạn trong dòng Chúa Cứu Thế. Sau đó, khi tình hình bớt nguy hiểm, ông Trọng tái xuất hiện nhưng chỉ âm thầm dạy Việt ngữ và Pháp ngữ cho nhân viên Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn. Chính trong thời gian nầy, nhân viên cao cấp của Hà Nội là ông Vũ Ngọc Nhạ đã phát hiện ra ông Trọng và kết nạp vào Cụm tình báo A-22. Sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967, ông Vũ Ngọc Nhạ định vận động với ông Nguyễn Văn Thiệu cho ông Trọng giữ chức Thủ tướng, nhưng vì điều kiện chính trị phức tạp lúc đó nên ông Trọng chỉ đóng vai Cố vấn tình báo chiến lược về những vấn đề chính trị và ngoại giao trong Phủ Tổng thống. Nhưng rồi A-22 bị phát giác, cả hai ông Nhạ lẫn Trọng đều bị bắt và bị Tòa án Quân sự Đặc biệt kết án đày ra Côn đảo.

Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Diệm, rồi Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển Kinh tế trong mấy năm cuối của Việt Nam Cọng Hòa là con chiên mộ đạo Gregory Nguyễn Tiến Hưng, người trước khi quyết định hợp tác với ông Thiệu đã phải đi thỉnh ý một Linh mục (xem “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập”).

Năm người cố vấn các lãnh vực Quân sự, Chính trị, Kinh tài, Kinh tế  Tình báo quay quanh và ảnh hưởng ông Thiệu mạnh nhất, tuy xuất thân từ những môi trường khác nhau, sinh hoạt trong những lãnh vực khác nhau, tiến thân từ những trình độ khác nhau, nhưng lại có một yếu tố chung rất nổi bật, đó là tôn giáo của họ, đó là cái liên hệ ruột thịt và đức vâng lời”  vào Giáo hội Công giáo Việt Nam, mà nhờ đó họ đã bước lên được vị trí gần nhất chung quanh ông Tổng thống Công giáo thứ nhì của nước Việt Nam Cộng Hòa.
Nói tóm lại, MƯỜI nhân vật Công giáo kể trên (mà đến bốn đã là giám mục và linh mục) đã thực sự là những người quần tụ chung quanh vị Tổng thống cũng Công giáo để tạo ra cái đầu não nắm lấy vận mệnh miền Nam. Họ bám lấy ông Thiệu mà sống và phát triển cũng như ông Thiệu bám lấy họ mà tồn tại và thi thố quyền lực.

 
Ngoài ra, Bộ trưởng Đặc Trách Liên Lạc Quốc Hội nằm trong tay ông Cao Văn Tường, một người trung thành với nhà Ngô đã từng được ông Ngô Đình Nhu cho làm Đệ Nhất Phó Chủ tịch Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Bộ Ngoại Giao thì do các ông Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm hay Vương Văn Bắc thay phiên nhau cầm đầu mà ông Thành và ông Lắm ai cũng biết là thuộc hạ nhà Ngô cũ.

Bộ Thông Tin dĩ nhiên phải để cho ông Ngô Khắc Tỉnh, học trò cũ của Giám mục Ngô Đình Thục và là cựu Dân biểu gia nô thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Để ông Tỉnh có đủ uy tín đối phó với lớp trí thức khoa bảng, ông Thiệu cử một phụ tá cũng khoa bảng giúp Tỉnh và dĩ nhiên vị phụ tá này phải là một tín đồ Công giáo gốc Huế, thân tín với chế độ cũ: ông Bùi Xuân Bào.


Chính phủ “Tam Đầu Chế” Thiệu-Kỳ-Khiêm
LẬP PHÁP: Ở Thượng Viện, Nguyễn Văn Thiệu luôn luôn có 3 hay 4 liên danh Công giáo làm tay sai: Liên danh Nguyễn Văn Huyền, liên danh Huỳnh Văn Cao, liên danh Nguyễn Gia Hiến (anh của ông Nguyễn Gia Kiểng thuộc nhóm Thông Luận) và liên danh Trần Văn Lắm gồm hầu hết là người Công giáo hay là người của chế độ cũ nổi tiếng trung thành với ông Diệm. Chức Chủ tịch Thượng viện suốt thời gian ông Thiệu cầm quyền nằm trong tay hai nhân vật Công giáo là các ông Nguyễn Văn Huyền và Trần Văn Lắm. Đệ Nhất Phó Chủ tịch là ông Phạm Như Phiên, một vị cựu quan lại tay chân cũ của Tổng thống Diệm. Cũng có thời ông Hoàng Xuân Tửu (một người Công giáo Quảng Trị thuộc đảng Đại Việt Hà Thúc Ký) được bầu vào chức Đệ Nhị Phó Chủ tịch, nhưng đến năm 1973-74, ông Tửu theo đường lối của Đảng quay ra chống đối Thiệu trong Phong Trào Chống Tham Nhũng của Cha Trần Hữu Thanh.
Còn ở Hạ Viện, người Công giáo (nhất là người Công giáo di cư và nhân sự cũ của chế độ Diệm) chiếm đa số, đặc biệt là khối Độc Lập 19 người gồm toàn thành phần Cần Lao Công Giáo do nhóm các ông Nguyễn Quang Luyện, Vũ Văn Mầu, Phạm Hữu Giáo cầm đầu. Khối này đã giành lấy những chức chủ tịch của các Uỷ Ban quan trọng để chi phối Hạ Viện. Trong Hạ Viện còn có dân biểu Đinh Xuân Minh (có em gái lấy Nghị sĩ Nguyễn Văn Chức). Ông Đinh Xuân Minh vốn là dân biểu của chế độ Diệm và là bác sĩ riêng của cố Tổng thống Diệm.
Chủ tịch Hạ viện trong nhiệm kỳ đầu là ông Nguyễn Bá Lương. Ông không phải là người Công giáo nhưng được hai ông Thiệu và Thăng mua chuộc các Dân biểu khác để sắp đặt bầu vào chức Chủ tịch Hạ viện vì ông là người “ba phải”, dễ thỏa hiệp. Vả lại, lúc mới cầm quyền, ông Thiệu thấy rằng Tổng thống đã là Công giáo, Chủ tịch Thượng viện đã là Công giáo nên ông Thiệu đặt ông Nguyễn Bá Lương đứng đầu Hạ viện để có thể làm bớt lộ liễu màu sắc Công giáo của chính quyền. Đây cũng chỉ là một thủ đoạn nối dài của thời Đệ Nhất Cộng Hòa với một ông Nguyễn Ngọc Thơ (không Công giáo) được anh em ông Diệm cố tình cho giữ chức vụ Phó Tổng thống để làm nhẹ cái thực tế rõ ràng là Tổng thống Công giáo, các ông Chủ tịch Quốc hội thay phiên nhau như Trần Văn Lắm, Phạm Văn Nhu, Trương Vĩnh Lễ đều là Công giáo.
Với một Quốc hội nằm trong tay đa số người Công giáo và người của chế độ Diệm đang cấu kết với ông Thiệu như thế, tất cả các dư luật thất nhân tâm như Luật Báo Chí, Luật Uỷ Quyền, việc hợp hiến hóa cuộc bầu cử Tổng thống độc diễn... đều đã được dễ dàng và mau chóng thông qua. Đó là không nói đến những hồ sơ tố cáo tham nhũng, lộng quyền bị Quốc hội dẹp bỏ trước sự công phẫn của nhân dân và chỉ trích gay gắt của báo chí như các nhật báo Bút Thép, Điện Tín, Dân Tộc...

Ngoài các cơ quan công quyền được “Công giáo hóa” dần dần, ông Thiệu còn vói tay nắm lấy Tổng Liên Đoàn Lao Công, một sản phẩm của ông Nhu để lại hầu làm hậu thuẫn cho Thiệu. Tổng Liên Đoàn Lao Công vẫn do ông Trần Quốc Bửu (nguyên ủy viên Trung ương Cần lao) giữ chức chủ tịch với một vị phụ tá là ông Nguyễn Bửu, người Công giáo Quảng Bình. Dưới thời ông Thiệu, chính ông Nguyễn Bửu mới là người thật sự điều hành Tổng Liên Đoàn vì ông đã được ông Thiệu giao phó cho nhiệm vụ giao thiệp với các nghiệp đoàn Hoa Kỳ và bí mật liên hệ với cơ quan CIA Mỹ.

 
QUÂN ĐỘI - Tuy nhiên, ông Thiệu biết rằng Lập pháp, Hành pháp hay Tư pháp trong một miền Nam chiến tranh và trong một chế độ làm đồng minh với Mỹ vẫn chưa đủ để củng cố quyền lực mà chính Quân đội mới là thành tố chính quyết định sức mạnh của kẻ cầm quyền. Hơn ai hết, ông Thiệu biết rõ vai trò của quân đội trong những biến cố chính trị, cũng hơn ai hết ông Thiệu biết rõ sự cần thiết phải Công giáo hóa quân đội mới hoàn tất được cái khế ước với lực lượng Công giáo đang hung hăng sống dậy tại miền Nam.

Trước hết, ông Thiệu dàn xếp cho Tướng Cao Văn Viên giữ chức Tổng Tham mưu trưởng và người thân tín của Viên là ông Đồng Văn Khuyên thì vừa là Tổng Tham mưu phó vừa là Tổng Cục trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Ông Viên là thành phần trung thành tuyệt đối với Tổng thống Diệm, vợ ông là tay chân đắc lực của bà Nhu trong Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới cũ. Ông Viên đã từng được ông Diệm cử giữ chức Tư lệnh Nhảy Dù thay thế Đại tá Nguyễn Chánh Thi sau cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 mặc dù ông Viên chưa một ngày ở trong binh chủng này và chỉ mới mang cấp bậc Trung tá. Hồ sơ quân vụ của ông Viên ghi đầy những công lao to lớn trung thành với nhà Ngô nên càng được khối Công giáo trong quân đội tín nhiệm và ủng hộ. Khốn nỗi bà Viên quá lộng hành và gây nhiều tai tiếng nên vị trí của ông Viên bị đe dọa, ông thu mình ngậm miệng lại và chỉ biết tìm nguồn vui qua việc tập luyện Yoga tại nhà hay ghi danh đi học ở Đại học Văn Khoa mà không để tâm nhiều vào việc chỉ huy quân đội.

Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị với các Cục trực thuộc như Cục Tuyên úy, Cục Chiến Tranh Tâm Lý, Cục An Ninh Quân Đội, Đài phát thanh và báo chí quân đội thì do tướng Trần Văn Trung, một người Công giáo Phú Cam điều khiển. Cơ quan này đáng lẽ phải bảo vệ tinh thần quân đội thì lại trở thành một công cụ phục vụ cho các tuyên úy Công giáo trong quân đội. Hiện tượng này không lộ liễu như dưới thời ông Diệm nên người ngoài ít ai để ý, nhưng các thành phần thuộc các tôn giáo khác thì thấy rất rõ và tuy bất bình mà không dám công khai nói ra.

Cầm đầu Nha Động Viên là ông Bùi Đình Đạm, một sĩ quan Công giáo di cư và từng là kẻ dưới quyền tướng Huỳnh Văn Cao. Ông Đạm liên hệ mật thiết với Linh mục Trần Du, chủ nhiệm báo Hòa Bình, vị Linh mục nằm trong hệ thống tình báo đặc trách việc theo dõi sinh hoạt báo chí cho nhóm Thiệu-Quang. Đạm là một sĩ quan hoàn toàn thiếu khả năng nhưng nhờ ngoan đạo mà được ông Thiệu giao cho chức vụ Giám đốc Nha Động Viên, một cơ quan vô cùng quan trọng và dễ dàng làm tiền dân chúng trong một quốc gia đang có chiến tranh. Phụ tá cho ông Đạm là Đại tá Huỳnh Văn Lang, lại cũng là một sĩ quan Công giáo khác.

Xuống thấp một chút ở các đơn vị địa phương và thực sự nắm quân là các chức vụ Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn thì những tướng tá Công Giáo hoặc tay chân của chế độ cũ cũng nắm phần đa số mà tiêu biểu là các tướng Ngô Du, Phạm Quốc Thuần, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Minh (cựu Tỉnh trưởng Long Xuyên thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tay chân của Đặng Văn Quang), Phạm Văn Phú (nguyên Tư lệnh Phó Lực lượng Đặc biệt của Lê Quang Tung), Nguyễn Văn Toàn (từng chỉ huy Thiết giáp tấn công Phật giáo trong biến cố 1966), Lữ Lan (một tay chân thân tín của Tổng thống Diệm nên được Cao Thế Dung đề cao trong cuốn Làm thế nào để giết một Tổng thống).

Sau quân đội là Cảnh sát Công an. Ban đầu vì còn có ông Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng thống nên ông Thiệu đồng ý để cho Đại tá Trần Văn Hai (sau khi tướng Loan bị thương trong biến cố Tết Mậu Thân) làm Tổng Giám đốc. Nhưng vì ông Hai thân với đảng Đại Việt và lại là một sĩ quan liêm chính nên muốn nắm vững Công an, ông Thiệu đặt Trung tá Nguyễn Mâu (một đảng viên Cần Lao từng thay ông Nguyễn Văn Đẵng trong chức vụ Tỉnh trưởng Thừa Thiên để đàn áp Phật giáo năm 1963) nắm giữ chức vụ Phụ tá ngành Công an Đặc biệt, một chức vụ sinh sát do Dương Văn Hiếu nắm giữ thời chế độ Diệm. Sau đó, khi Phó Tổng thống không phải là ông Kỳ nữa, Thiệu bèn giao chức Tổng giám đốc Cảnh sát Công an cho ông Nguyễn Khắc Bình, vừa là bà con với vợ Thiệu vừa lại có công với nhóm Cần Lao (Ông Bình đã có công tố cáo với ông Ngô Đình Nhu hành động “phản loạn” của tướng Nguyễn Hữu Có khi ông Có xuống Mỹ Tho tổ chức đảo chánh chế độ Diệm năm 1963).

Như vậy, với một quân đội có những Cao Văn Viên, Đồng Văn Khuyên, Trần Văn Trung, Bùi Đình Đạm, Huỳnh Văn Lang, Ngô Du, Phạm Quốc Thuần,Đỗ Cao Trí, Trần Văn Minh, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Toàn, Lữ Lan v.v... nắm những chức vụ then chốt ở trung ương; và với một lực lượng Công an Cảnh sát có những Nguyễn Mâu, Nguyễn Khắc Bình... Thiệu đã vá lại được mạng lưới Cần Lao hoặc Công Giáo bị rách vào năm 1963 để phủ xuống một quân lực mà các thành phần ưu tú và trong sạch nhất thì nằm ở tuyến đầu khói lửa chứ không phải tại các phủ bộ ở thủ đô Sài Gòn.

Với tình hình an ninh càng lúc càng suy thoái và tiếp nối chính sách quân sự hóa các tỉnh trưởng của chế độ Diệm, ông Thiệu mở rộng mạng lưới Công giáo ra khắp nơi. Để làm vừa long các chiếc “áo chùng đen”, ông Thiệu còn trắng trợn và khiêu khích bổ nhiệm các sĩ quan Cần Lao cũ tại các địa phương đông Phật tử như Đại tá Thân, Đại tá Nguyễn Hữu Duệ tại Thừa Thiên và Đại tá Nguyễn Ngọc Khôi tại Đà Nẵng, hai sĩ quan sau là hai sĩ quan Công giáo cao cấp thuộc Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ của ông Diệm trước 1963, còn Đại tá Thân là tay chân của Linh mục Cao Văn Luận.

Nhìn lại toàn bộ lực lượng nhân sự nắm các địa vị quan trọng tại miền Nam dưới chế độ Thiệu, từ chức Tổng thống Cộng Hòa đến Tỉnh trưởng Thừa Thiên, từ Cục Tiếp Vận đến Bộ Giáo dục, từ Tổng Liên đoàn đến Nha Động Viên, từ Tư lệnh Sư đoàn đến Chủ tịch Quốc hội, từ Ban Cố vấn Tối cao đến các liên danh trong Thượng viện, từ Cảnh sát Công an đến Ngoại giao, từ Nguyễn Cao Thăng đến Đặng Văn Quang, từ Cao Văn Luận đến Trần Du, từ Nguyễn Bá Cẩn đến Bửu Dưỡng,... ta thấy rõ ràng đám con mồ côi chính trị của chế độ cũ đang nỗ lực làm sống lại cái tinh thần độc tài Công giáo trị của chế độ cũ của những Thục, Diệm, Nhu, Xuân, Cẩn.


Nghị định số 116-BNV/CT đã chiếu theo Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 dl 1950 ấn định quy chế các hiệp hội để thành lập Hội CẦN LAO NHÂN VỊ CÁCH MẠNG ĐẢNG

Bóng ma của chế độ Diệm vẫn đè nặng trên sinh hoạt chính trị của miền Nam để điều động những chiếc áo dòng màu đen lăng xăng ở các trung tâm quyền lực. Truyền thống độc tài và bạo trị của gia đình họ Ngô vẫn khống chế dư đảng Cần Lao trong quân đội và ngoài dân sự để thúc giục họ duy trì một chánh sách bạo trị hại dân hại nước. Nói cách khác, ông Diệm chết rồi nhưng những kẻ thừa kế của ông, mà đứng đầu là con chiên Nguyễn Văn Thiệu và các linh mục đầy quyền lực, đã thành công trong việc phục hồi lại cái xác chết đó để làm biểu tượng cho chế độ, một chế độ Diệm không Diệm.

 
Sưu tầm Internet: PhanvanKhai


 

                                                              

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013


GIÃ TỪ LÝ PHẬT TỬ HÔM NAY

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Dương văn Minh - Tổng Thống thứ tư và cũng là Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, qua đời ngày 6.8.2001 tại Pasadena, California, Hoa Kỳ thọ 85 tuổi.

Trong số những kẻ đầu đàn trực tiếp có ân nghĩa và nợ nần với dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử 1954-1975, giờ chỉ còn lại hai: Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Khánh. Còn Bảo Đại, Ngô đình Diệm rồi Trần văn Hương một bên, Hồ chí Minh và Lê Duẩn một bên, thì kẻ trước người sau đều đã theo nhau vượt Sông Mê ghé quán Cháo Lú ... trước khi lên đường về cõi không tên.

Dương văn Minh ít ra cũng đã hai lần công khai đi vào lịch sử chính trị Việt Nam. Năm 1963 như một phản thần thí quân. Năm 1975 như một Lý Phật Tử đầu hàng quân nhà Tùy năm 603 để "không cứu được nước thì cứu được dân" như chính Dương văn Minh tâm sự.

Đại tướng Dương Văn Minh: "1963" và "1975"
Ngoài hai lần đó ra, những lần khác không quan trọng lắm. Như Đại Tá chỉ huy chiến dịch Hoàng Diệu đánh bật lực lượng Bình Xuyên khỏi ven đô chạy về Rừng Sát tháng 9.1955. Phụ tá của Dương văn Minh trong chiến dịch này là Trung Tá Nguyễn Khánh, kẻ đã phế triệt ông 8 năm sau đó. Như Thiếu Tướng chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ truy kích lực lượng Bình Xuyên tháng 1.1956 và bắt được Ba Cụt ngày 13.4. Như Thiếu Tướng chỉ huy chiến dịch Thoại ngọc Hầu bình định lục tỉnh tháng 6.1956, kết thúc bằng vụ xử tử Ba Cụt tại Cần Thơ ngày 13.7.56. Dương văn Minh là một Ngô thì Nhiệm an định Bắc Hà cho Quang Trung, một Lê văn Duyệt giữ yên Nam Kỳ lục tỉnh cho nhà Nguyễn.

Dương văn Minh chính là trụ cột chống đỡ chính quyền non nớt của Ngô đình Diệm thời khai quốc trước nạn sứ quân lục lâm Lương Sơn Bạc núp dưới chiêu bài giáo phái do Pháp và Bảo Đại đỡ đầu. Nhờ công trạng đó mà đến tháng 8.56 Dương văn Minh được cất nhắc lên chức Tổng Thư Ký Thường Trực Bộ Quốc Phòng tương đương với Tổng Tham Mưu Trưởng, kiêm chỉ huy Phân Khu Sài Gòn-Chợ Lớn tương đương với Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, kiêm Tư Lệnh chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Sau đó lên Trung Tướng và giữ chức Tư Lệnh Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu. Cho đến tháng 12.62 thì mất chức Tư Lệnh Hành Quân và chỉ còn hư danh Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống. Tại sao Dương văn Minh thất sủng như thế thì có lẽ chỉ có anh em Ngô đình Diệm và Dương văn Minh biết rõ thôi.

Năm 1963, phong trào Phật giáo bùng lên từ ngày Phật Đản 8.5, trong khi chính quyền đang chủ trương dẹp gấp dẹp gọn phong trào này thì ngày 14.6 cái gọi là “Hội đồng Tướng lãnh” họp kêu gọi hai bên đoàn kết, bình tĩnh, tránh hiểu lầm, đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, giải quyết trong tình huynh đệ. Là đàn anh của các tướng lãnh, hẳn Dương văn Minh không thể không có ý kiến quyết định khuyến cáo đó. Khuyến cáo đó có thể coi đó là một cách dằn mặt Phật giáo, và cũng có thể là một cách dằn mặt chính quyền. Cách nào đúng thì hơn bốn tháng sau mọi người đều đã thấy rõ qua chính biến 1.11.

Không có chính biến 1.11 thì lịch sử của chung Miền Nam và của riêng Phật giáo Việt Nam hẳn đã có một vài trang đẫm máu ngoại hạng và Miền Nam có thể đã tạm thời trở thành một Phi Luật Tân về tôn giáo. Thật vậy, khi cuộc vận động tự do và bình đẳng tín ngưỡng của Phật giáo vượt ngoài vòng tiên liệu và kiểm soát của mình thì chính quyền đã thẳng tay phát động chiến dịch Nước Lũ đêm 20.8 hốt tất cả thành phần lãnh đạo Phật giáo vào tù. Dĩ nhiên, không phải cho những người này nghỉ ngơi một thời gian rồi thả ra, để biểu tình tiếp hay ra để hưởng tất cả những quyền lợi nhân quyền, tự do hành đạo, tự do chính trị như các đồng bào công giáo!

Ai không theo ta là kẻ thù của ta. Nếu không có chính biến 1.11 do Dương văn Minh cầm đầu thì số phận những người bị chế độ xem là kẻ thù sẽ như thế nào? Hỏi như vậy tức những người Phật tử cũng như những thành phần đối lập với chính quyền từ vụ Bình Xuyên Hòa Hảo, vụ Ba Lòng, vụ Caravelle, vụ Phạm phú Quốc - Nguyễn văn Cử, vụ Nguyễn chánh Thi ... đều phải nhớ ơn Dương văn Minh và chính biến 1.11.1963.

Và không chỉ những người Phật tử biểu tình tranh đấu cám ơn Dương văn Minh mà cả những người trung kiên với Ngô đình Diệm cũng phải cám ơn Dương văn Minh nữa. Những người này có thể trách Dương văn Minh phản chủ khiến cho Ngô đình Diệm và Ngô đình Nhu bị thảm sát và có thể hận Dương văn Minh,nhưng hãy đừng hận đến độ quên cả tự hỏi rằng, nếu trong và sau ngày 1.11.1963 mà Dương văn Minh có dã tâm bật đèn xanh xúi dục hay nhắm mắt cho những phần tử cực đoan, các giáo phái đã bị truy bức chết lên chết xuống trước đây tìm cách trả thù 'chế độ cũ' hay 'Cần Lao ác ôn' thì chuyện gì sẽ xảy ra? Hoặc đặt câu hỏi ngược lại rằng nếu chính biến 1.11.1963 là do những người của Ngô Tổng Thống anh minh thực hiện (như kế hoạch Bravo của chính Ngô Đình Nhu) thì chuyện gì sẽ xảy ra? Cứ xem những gì đã xảy ra ở Indonesia sau khi Sukarno bị hạ bệ, ở Campuchia sau khi Pol Pot vào Nam Vang, ở Yugoslavia sau khi cộng hòa này tan rã, ở Rwanda trước đây và Bắc Ireland hiện nay thì phải thấy đa số người dân Việt đáng tự hào là đã không để cho máu đổ vì những hận thù chính trị hay tôn giáo.

Có người không muốn nhìn cái chết của anh em Ngô đình Diệm như hậu quả đương nhiên của trò chơi quyền lực vốn tàn độc bất nhân đã nhào vào chơi thì phải rán chịu, nên đã tìm cách đổ tội cho Dương văn Minh và Kennedy về cái chết của anh em nhà Ngô. Nhưng trách Dương văn Minh phản Ngô đình Diệm thì làm sao tránh khỏi trách Ngô đình Diệm phản Bảo Đại? Mặt khác, bảo rằng vì Kennedy chủ tâm giết Ngô đình Diệm nên chẳng bao lâu sau Kennedy mới bị chết thảm. Nhưng nếu bảo Kennedy chết thảm vì quả báo sát hại anh em nhà Ngô thì ba anh em nhà Ngô chết thảm vì quả báo nào đây? Không lý những người bênh anh em nhà Ngô lại muốn thiên hạ nghĩ rằng theo luật quả báo mà nói thì anh em nhà Ngô chết cũng chẳng oan chút nào sao?

Kennedy có chủ tâm giết anh em nhà Ngô không thì không chắc, nhưng Kennedy muốn phế bỏ nhà Ngô là chuyện thật. Tại sao? Câu trả lời có thể tìm thấy qua dòng tin ngắn Đoàn Thêm đã ghi lại trong quyển Hai Mươi Năm Qua 1945-1964 tr.348 như sau: '22.5.1963 - T.T Kennedy họp báo tuyên bố rất rành mạch và dứt khoát: Một: sẽ rút quân đội Mỹ khỏi VN bất cứ lúc nào nếu chính phủ VN yêu cầu. Một ngày sau khi có sự đòi hỏi đó, sẽ cho ngay một số quân về. Nhấn mạnh: đó là điều thứ nhất. Hai: Hy vọng rằng tình thế ở VN sẽ cho phép rút một số quân vào cuối năm nay, song e rằng cuộc tranh đấu còn gay go'. Như vậy, theo Kennedy, đánh hay đàm, tiến hay rút thì Mỹ cũng cần Miền Nam ổn định, không hỗn loạn. Ngô đình Diệm phải chịu trách nhiệm về thế nước lòng dân ổn định đó. Và trong lúc địch gia tăng quấy phá, tấn kích mà chính quyền Việt Nam lại đẩy gần 80% dân chúng vào thế đối kháng sống chết với chính quyền thì quả thực đó là một sai lầm không thể chấp nhận. Bằng chiến dịch Nước Lũ 20.8.1963, chính quyền Ngô Đình Diệm đã nói cho Hoa Kỳ biết là họ không cần thế nước lòng dân ổn định đó. Và họ có cách tái lập ổn định riêng của họ. Mỹ không chấp nhận điều đó và thế là Đệ Nhất Cộng Hòa bị dứt điểm. Kẻ được Mỹ nhờ đến là Dương văn Minh. Dương văn Minh đoán được ý Mỹ, không đòi Mỹ tiếp tay mà chỉ đòi Mỹ hứa là không phá bĩnh kế hoạch chính biến của phe mình thôi. Đó là quả quyết của Stanley Karnow, tác giả bộ sử đồ sộ Vietnam: A History. Karnow đã có cơ hội trò chuyện với Dương văn Minh cùng những người khác trong nhóm làm chính biến cũng như với đại diện của Tòa Đại Sứ Mỹ bên cạnh nhóm chính biến là Đại Tá Conein.

Kennedy và bộ tham mưu cần Dương văn Minh để tái tạo một thế ổn định mới, có thể là để cho Mỹ an toàn ra đi. Kennedy chết đột ngột, dự tính đó cũng bị bỏ rơi. Những người thay thế Kennedy không cần nhóm Dương văn Minh nữa. Cho nên Dương văn Minh làm quốc trưởng được mấy tháng thì bị Nguyễn Khánh lật. Vì Tổng Thống Johnson cần một quốc trưởng Miền Nam dám vác cờ Bắc tiến trong khi Dương văn Minh không muốn đánh mà cũng chưa dám đàm.

Năm 1963, Dương văn Minh không được Kennedy và Lodge trọng dụng, nhưng năm 1975, đã được Nixon-Ford và Martin xài đúng chỗ khi họ cần một người vác cờ trắng đầu hàng cho Mỹ êm thắm rút đợt cuối cùng. Dương văn Minh cố đẩy Trần văn Hương xuống để dành lấy ngôi vị quốc trưởng vì thành thật tin mình có thể cứu vãn được Miền Nam, hay chỉ tự lừa mình, hay vì bị người lừa để tin như vậy? Hay vì cả ba lý do đó hợp lực thúc đẩy? Chỉ có Dương văn Minh biết rõ mà thôi. Chiều 28.4.1975, sau khi Dương văn Minh tuyên thệ nhậm chức, một ngưòi bạn gặp anh Bùi Tường Huân lúc đó là Bộ Trưởng Quốc Phòng của Dương văn Minh báo cho biết là bên kia - tức Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, đã chịu thương thuyết. Tôi thưa lại rằng thương thuyết chi mà thương thuyết! điều gấp rút bây giờ không phải là cứu Miền Nam hay Sài Gòn mà là cứu … các anh đó. Cách tiện lợi để làm chuyện ấy là dụ Đại Sứ Martin đến Dinh Độc Lập rồi bắt lại luôn và nói cho Martin biết: Tôi chết thì anh cũng chết, anh thoát thì tôi cũng thoát! Đệ Thất Hạm Đội của Mỹ ngoài khơi đâu có chịu để cho Đại Sứ Martin lọt vào tay đối phương. Vì phát ngôn bừa bãi vậy nên Hoàng tôi đã phải nghe chửi thề rồi bị mắng cho là bao giờ cũng chỉ thích làm loạn!

Chuyển biến tư tưởng của Dương văn Minh trong 72 giờ làm Tổng Thống hẳn phải là bão táp quay cuồng giữa tin và không tin thiên hạ, đánh và đàm, thương thuyết và đầu hàng, cầm cự và bỏ chạy... Tội nghiệp! Như tâm trạng của người Miền Nam và riêng Sài Gòn trong những ngày cuối cùng đó. Nhưng bị người lừa hay tự lừa mình hay quyết định tỉnh táo mà sai lầm đến đâu chăng nữa thì Dương văn Minh thực sự cũng đã có một quyết định đúng đắn mà cả dân tộc phải ghi ân đó là quyết định buông súng ngưng chiến. Một điều bi hài mà Dương văn Minh không hề nghĩ đến đó là khi tuyên bố ngưng chiến, Dương văn Minh không chỉ ký giấy khai tử Việt Nam Cộng Hòa mà còn vô tình khai tử luôn cả Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam! Việt Nam Cộng Hòa chết thì Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cũng chết theo vì cả hai chỉ là những con chốt trên bàn cờ Mỹ-Bắc Việt.

Cho đến năm 1997, 25 năm sau ngày Việt Nam Cộng Hòa tiêu vong, Dương văn Minh đã nói một sự thật ít người nào chịu chấp nhận đó là người Mỹ viện trợ cho Miền Nam chiến đấu chống cộng vô giới hạn về nhiều mặt, trừ ba thứ là gạo, xăng dầu và đạn. Viện trợ Mỹ về ba thứ này được dứt khoát giữ ở mức đạn chỉ đủ bắn 6 tháng, xăng dầu và gạo chỉ dùng được 3 tháng là cùng! Năm 1966, Miền Trung không dám ly khai cũng vì lý do này. Năm 1970, Tướng Nguyễn văn Vỹ và chương trình Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội bị giết chết từ trong trứng nước cũng chỉ vì muốn dùng số tiền tiết kiệm đó để tạo điều kiện cho quân đội VNCH khỏi bị những thúc bách hạn chế tiếp vận về gạo, đạn và xăng dầu đó. Điều này cũng giải thích tại sao Tướng Nguyễn khoa Nam tự tử và kéo những người thân tín nhất của ông chết theo sau ngày 30.4.1975 sau khi thất bại trong dự tính biến miền Tây thành khu tự trị để đương cự với địch.

Có một điều mà Dương văn Minh không nói và Hà Nội cũng không xác nhận đó là trong số xe bồn chở xăng dầu cung ứng cho chiến trường Sài Gòn có những chiếc không chở xăng dầu mà chở phọt-môn, chuẩn bị để tẩy uế Sài Gòn trường hợp Miền Nam không chịu buông súng và Bắc quân phải giải phóng Sài Gòn bằng pháo kích như Pol Pot đã làm ở Nam Vang! Về chuyện ác mộng pháo kích này thì mấy ai ở Sài Gòn mà không nhớ chuyện khôi hài ghi lại lời một ông lão hơi lẩm cẩm nhưng hay nói đã phát biểu sau ngày 30.4. Trong một buổi mít-tinh, ông cụ đã dơ tay xin phát biểu rằng: 'Tui cám ơn cách mạng đã về giải phóng chúng tôi nhanh chóng, cách mạng mà vào chậm chút nữa thì 'dziệt cộng' nó pháo kích như ở Nam Vang chắc chúng tôi chết hết rồi!' Thiên hạ cười quá trời khiến ông lão tỉnh người lại và hoảng hốt xua tay phân bua: 'Thôi! Thôi! Tui không dám dài dòng nữa đâu. Già cả lẩm cẩm, tui nói bậy cách mạng giết tui chết mất! Xin cách mạng tha tui!'

Dương văn Minh ra lệnh buông súng là đúng. Bởi ông không thể làm gì khác hơn nếu không muốn thịt rơi máu chảy hơn nữa. Người Sài Gòn và người Miền Nam phải nhớ ơn ông, cám ơn cái sai lầm của ông, nếu có, khi ông đoạt lấy chiếc ghế Tổng Thống. Đó cũng là sai lầm của Lý Phật Tử đầu hàng quân Tàu ngày xưa để tránh cho dân khỏi bị khổ đau chết chóc thêm nữa vì một cuộc chiến vô vọng. Miền Nam có đau khổ hay không dưới nền cai trị mới của kẻ chiến thắng, đó là chuyện khác. Và nỗi đau khổ dưới chế độ mới này cũng vô ích như nỗi khổ kéo dài cuộc chiến mà Dương văn Minh đã cố tránh, và tránh được. Vô ích vì nỗi khổ này chỉ bắt nguồn từ ảo tưởng và cuồng vọng. Dương văn Minh đã đánh bại kẻ chiến thắng về điểm này, không phải bằng nộ khí anh hùng mà bằng độ lượng từ tâm. Dương văn Minh không có ảo tưởng chiến thắng hay thủ hòa bằng quân sự như Lê Duẩn có ảo tưởng triệt để 'cải tạo Miền Nam để tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên XHCN'. Bao nhiêu trại học tập cải tạo là bấy nhiêu chứng tích của ảo tưởng này. Cái ảo tưởng không làm cho Sài Gòn tắm máu, nhưng làm cho Miền Nam tắm nước mắt và mồ hôi vô lối.

Mà thôi! Đó là chuyện để cho Lê Duẩn đôi co với Hồ chí Minh và Dương văn Minh dưới Suối Vàng nếu quả thật đã vượt Sông Mê, đã ăn cháo lú mà họ vẫn còn nhớ chuyện trần gian. Tự nhận thất bại đôi khi còn có ích cho đời hơn là tự cho mình thành công. Những người Việt còn sống có lẽ chỉ nên suy gẫm bài học Dương văn Minh để vừa buồn là đã phải làm người Việt Nam, vừa tự hào là đã làm người Việt Nam. Tương lai Việt Nam tùy thuộc phần lớn vào nỗi muộn phiền và lòng tự hào đó.

Xin vĩnh biệt Dương văn Minh, xin vọng bái Lý Phật Tử của Việt Nam thế kỷ 20

Hoàng Nguyên Nhuận

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013


 

 

“ĐẠI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH, CÔNG VÀ TỘI”

Trọng Đạt / Đàn Chim Việt

 

LNGT- Bài viết dưới đây của tác giả Trọng Đạt, phổ biến trên Đàn Chim Việt trong dịp kỷ niệm 30/4/2012, nhằm chứng minh rằng ông Dương Văn Minh “không có tội mà cũng chẳng có công” trong biến cố sụp đổ của Sài Gòn và miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả ở vế đầu, “không có tội”, nhưng chỉ đồng ý một phần với vế sau, “cũng chẳng có công”, vì phân tích của tác giả chỉ dựa trên một yếu tố quân sự trong một giới hạn thời gian nhất định của những tháng cuối cùng trước lúc Sài Gòn thất thủ, mà không lý đến những yếu tố quan trọng khác trong suốt cuộc chiến gần 20 năm tại Việt Nam.

Tuy nhiên, những dữ kiện trong bài nầy, ít nhất, cũng phá vỡ một huyền thoại mà người Việt chống Cọng ở hải ngoại, từ hơn 30 năm qua, đã bám vào nó để biện minh cho lý do thất trận của quân đội VNCH. Đó là huyền thoại, hay đúng hơn là lời chạy tội, rằng “Vì ông Minh ra lệnh buông súng đầu hàng nên họ phải thua trận”. Huyền thoại nầy là vỏ bọc cho một lời chạy tội nầy nhằm che lấp và/hoặc bóp méo ba dữ kiện:

-          Thứ nhất, chiều 29-4-1975 ông Minh mới nhậm chức Tổng Thống, và ngày 30-4-1975, lúc 10.30 giờ sáng, ông Minh mới ra lệnh trao nạp vũ khí cho quân Mặt trận GPMN. Vậy thì TRƯỚC NGÀY ĐÓ, kể từ cuộc triệt thoái Ban Mê Thuột vào trung tuần tháng 3, trong gần 50 ngày, đã có hàng vạn quân nhân Quân lực VNCH trên cả 4 vùng chiến thuật bỏ đơn vị, tan hàng, vất vũ khí, cởi quân phục tìm đường thoát thân cho đến sáng ngày 30-4, là theo lệnh ai? là vì lý do gì? Lệnh đó không phải là lệnh của ông Minh, lý do đó không đến từ ông Minh, vậy thì tại sao cứ lấy lý do vì “ông ra lệnh đầu hàng” vào sáng 30-4 đó để đổ “tội” cho ông ?

-          Thứ nhì, giả dụ ông Minh, hay cụ Hương, hay bất kỳ vị lãnh tụ của VNCH nào vào lúc 10.30 giờ sáng ngày 30-4-1975 đó, ra lệnh cho rất ít đơn vị còn cầm súng phải tử thủ để “bảo vệ miền Nam” thì ai là người “tử thủ”, đơn vị nào sẽ quyết chiến, và súng ống đạn dược đâu để tử thủ theo chiến lược gì? Quan trọng nhất, sau 55 ngày nhận chịu hết thất bại nầy đến thất bại khác, sau 55 ngày tan rã hết quân khu nầy đến quân khu khác, sau 55 ngày sức tàn lực kiệt, hổn quan hổn quân, và trực thăng Mỹ thì đang vần vũ trên trời để bốc người di tản ra hạm đội 7 …, thì ai là người chịu nghe lời “tổng thống”, vâng lệnh thượng cấp, để tiếp tục chiến đấu chiếm lại Cao nguyên, lấy lại miền Trung và đẩy lui Cọng quân về lại sông Bến Hải, … mà bây giờ lại bất nhân bất nghĩa đổ tất cả  tội lên đầu một người ?

-          Cuối cùng, tâm cảnh của quân dân Việt Nam Cọng hòa vào lúc 10.30 giờ sáng ngày 30-4 chủ yếu chỉ có hai loại: (i) Hoặc là đã chán ngán cuộc chiến tranh vốn quá nhiều hủy hoại và tang tóc từ gần 10 năm qua nên nhìn những ngày cuối tháng Tư như hồi chung cuộc của cuộc chiến mà không cần biết đến tương lai sẽ ra sao, miễn chấm dứt được chiến tranh; (ii) Hoặc là hốt hoảng bảo vệ thân mạng gia đình mình trong buổi hoàng hôn của VNCH bằng cách vượt biển trốn ra nước ngoài hay đợi quân “giải phóng” vào tiếp quản địa phương. Đó là tâm trạng “tự buông súng”, tâm trạng “chờ đợi hòa bình”, tâm trạng “sợ sệt buông xuôi” của tuyệt đại đa số quân dân miền Nam lúc Cọng quân đã dàn quân ở cửa ngõ Sài Gòn. Vậy thì cứ kết tội ông Minh ra lệnh đầu hàng trong khi chính mình đã tự đầu hàng trong tâm trí rồi, đã cuống quít vất bỏ vũ khí, thì có phải là … một “tiện lợi lịch sử” cho mình không ?

Quân đội Việt Nam Cọng hòa đã có nhiều cá nhân là anh hùng trong 20 năm chiến đấu. Nhưng 55 ngày cuối cùng của mùa Xuân năm 1975, dù vị Tổng Tư lệnh Quân đội có phạm những lỗi lầm chiến lược và sau đó, từ ngày 24-4, đã đào thoát ra nước ngoài, thì cuộc rút lui thê thảm tại miền cao nguyên, và tình hình “tự đầu hàng” bạc nhược ở suốt miền Trung, đã chứng tỏ đó là một quân đội không anh hùng chút nào hết trong 55 ngày đó ! Nhưng tồi tệ hơn cả, và phản anh hùng hơn cả, là cho đến gần 4 thập kỹ sau, những người cựu quân nhân đó, bây giờ tóc đã điểm sương sống đời tha hương, vẫn không có đủ can đảm và lương thiện để nhận tội của mình trước lịch sử như một tập thể, mà lại đổ tất cả lên đầu chỉ một người đồng ngủ đã từng chia sẽ màu cờ sắc áo là ông Dương Văn Minh.

Nhưng thật ra, chiến dịch “đổ tất cả tội lên đầu một người”, mà người đó phải là Dương Văn Minh chứ không phải ai khác, có lý do của nó và có người lãnh đạo nó. Đó vốn là âm mưu của một thế lực tôn giáo muốn trả thù cho lãnh tụ cũ của họ đã bị ông Minh cầm đầu cuộc cách mạng lật đổ vào năm 1963. Thế lực đó là Công giáo Việt Nam, và lãnh tụ đó là ông Ngô Đình Diệm.

Cho nên, trên các diễn đàn hải ngoại, nhất là diễn đàn truyền thông Công giáo, từ nhiều năm nay, ta thấy khi phân tích về nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của VNCH, ai cũng có tội, người nhiều kẽ ít. Từ quân nhân đến đảng phái chính trị, từ trí thức đến công chức, tất cả đều san sẽ cái “tội làm mất nước” với nhau, ngoại trừ lực lượng Công giáo Việt Nam là được trắng án, không có tội gì cả, dù 20 năm của miền Nam chống Cọng đã được lãnh đạo bởi hai ông Tổng thống Công giáo, dù kinh viện và quân viện của Mỹ để chống Cọng đã chảy vào túi thế lực Công giáo nhiều nhất trong cả hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cọng hòa.

Và cũng khi phân tích lý do “mất nước”, những tay biện giải Công giáo đã bỏ qua rất nhiều yếu tố quan trọng và to lớn khác trong một vấn đề phức tạp như chiến tranh VN, đã bỏ qua một khoảng thời gian 12 năm (1963-1975) với bao biến động khác ở tầm quốc gia cũng như quốc tế, để đơn giản và khô cứng kết luận rằng vì “đảo chánh Cụ 1963” nên “mất nước 1975”!.

Dương Văn Minh lật Cụ 1963 thì Dương Văn Minh phải làm mất nước 1975. Vì vậy màtất cả tội đều đổ lên đầu một người” !

Cái logic tàn bạo và gian xão đó, được lập đi lập lại nhiều lần trên các hệ thống truyền thông của Công giáo, đã lợi dụng được mặc cảm tội lỗi, đã khai thác được hội chứng thất trận của anh em cựu quân nhân, và vận dụng được lòng căm thù của cựu tù nhân cải tạo. Thế lực Công giáo đã thiết kế và triển khai một huyền thoại để ru ngũ và xoa dịu được những ẫn ức và dồn nén tâm lý của các tổ chức cựu quân nhân ở hải ngoại. Thế là như Ponce Pilate ngày xưa khi xử tội Chúa Giêsu, anh em cựu quân nhân bị tẩy não tư duy mà không biết, tưởng rữa được vết nhơ trên bàn tay chiến bại của mình. Dù đó không phải là sự thật, dù đó là không lương thiện.

Nhưng lịch sử không đứng về phía kẽ thắng, lại càng chẳng đứng về phía kẻ bại. Lịch sử đứng về phía sự thật.

LNGT


Đại Tướng Dương Văn Minh, Công Và Tội
 
Trọng Đạt / Đàn Chim Việt
 

 
Sau khi miền Nam VN mất về tay Cộng Sản ngày 30-4-1975 nhiều người kết tội Dương Văn Minh đầu hàng giặc, dâng nước cho Bắc Việt, họ nói vì ông mà miền Nam mất. Những người cảm tình với Dương Văn Minh nói ông có công cứu Sài Gòn và miền Nam Việt Nam thoát chết, “nếu ông không ra lệnh đầu hàng thì nó pháo kích chết hết !!!” Sau khi ra Hải ngoại trả lời phỏng vấn báo chí ông nói : “Tôi không cứu được nước nhưng tôi phải cứu dân”.

Sự thực ông ấy không có tội mà cũng chẳng có công, dù ông có hay không ra làm Tổng thống ‘hơn một ngày rưỡi’ thì tình hình miền nam VN và Sài Gòn cũng vẫn y nguyên như thế. Hẳn mọi người đều biết, vào thời điểm ấy miền nam VN hầu như vô chính phủ, các vị Tổng thống, Thủ tướng, các vị Bốn sao , Ba sao, các ông lớn…đều đã “tẩu vi thượng sách”, Việt Cộng đang tiến quân vào.

Ngược dòng thời gian tháng 11-1972 khi sắp ký Hiệp định Paris, Hoa kỳ đã vội vã cung cấp cho VNCH khoảng gần 600 máy bay các loại gồm : 200 máy bay phản lực chiến đấu, khoảng 340 trực thăng các loại và mấy chục máy bay vận tải, thám thính, ba tiểu đoàn pháo binh 175mm, hai tiểu đoàn thiết giáp M-48, 286. (Theo Nixon, No More Vietnams, trang 170-171). Miền Bắc bị thiệt hại nặng sau trận mùa hè đỏ lửa 1972, họ mất khoảng 100 ngàn quân, 700 xe tăng (Nguyễn đức Phương- Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 587), lại nữa cuối 1972, TT Nixon cho B-52 oanh tạc dữ dội Hà nội, Hải phòng đánh phá tan nát bộ máy chiến tranh của Bắc Việt”( No More Vietnams. Trang 158). Sau ngày ký Hiệp định Paris 27-1-1973, VNCH yên tâm vì tiềm năng quân sự miền Nam mạnh hơn miền Bắc.

Tuy nhiên tình hình thay đổi rất nhanh, cán cân lực lượng hai miền đã đảo ngược từ 1974, CS quốc tế vẫn tiếp tục viện trợ quân sự đều đặn cho Hà Nội: Giai đoạn 1969-1972 BV được Nga, Trung Cộng viện trợ 684,666 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật. Giai đoạn 1972-1975 họ nhận được 649,246 tấn hàng vũ khí, số lượng hàng viện trợ của hai giai đoạn tương đương nhau.(Bản tin của BBC.com ngày 5-10-2006). Theo Kissinger, Hà nội đã xin được viện trợ của Xô viết tăng gấp bội. Thàng 12- 1974, một viên chức cao cấp Nga viếng Hà Nội lần đầu tiên kể từ sau ngày ký Hiệp định Paris . Tổng tham mưu trưởng Nga Viktor Kulikov tới tham dự họp chiến lược với Bộ chính trị BV, nay họ bãi bỏ hạn chế trước đây. Xô Viết đã chở vũ khí viện trợ quân sự cho Hà Nội tăng gấp 4 lần trong những tháng sau đó. Nga khuyến khích BV gây hấn (Years of Renewal trang 481).

Trong khi đó miền Nam bị Quốc hội Mỹ xiết cổ từ từ, Hạ Viện Mỹ 1972 Dân chủ chiếm đa số 242 ghế, Cộng Hòa 192 ghế, họ chống đối chiến tranh VN rất mạnh, trước hết họ cắt giảm quân viện xương tủy mỗi năm khoảng 50%: Từ 2,1 tỷ tài khóa 1973 xuống còn một tỷ tài khóa 1974 và xuống còn 700 triệu tài khoá 1975, cón số này thực ra chỉ bằng 500 triệu vì dầu thô lên giá, tiền mất giá (theo Henry Kissinger, Years of Renewal trang 471). Ngày 15-8 -1973 ban hành luật của Quốc hội cắt bỏ tất cả các ngân khoản dùng trực tiếp gián tiếp cho các hoạt động quận sự Mỹ tại Đông Dương. Ngày 7-11-1973 Quốc Hội ban hành luật War Powers Resolution hạn chế quyền Tổng thống trong chiến tranh, Tổng thống muốn đem quân ra ngoại quốc phải đưa ra Quốc hội để trói tay hành pháp thì số phận của VNCH coi như đã được quyết định rồi .

Kỳ bầu cử Hạ viện Mỹ tháng 11-1974, Dân chủ chiếm đại đa số, tỷ lệ 66.9% Hạ viện với 291 ghế, Cộng Hòa 144 ghế. Dân chủ chống chiến tranh Đông Dương quyết liệt, cắt bỏ bất cứ ngân khoản viện trợ nào giành cho Đông Dương. VNCH lâm vào tình trạng đen tối. Hậu quả của cắt giảm quân viện khiến cho miền Nam ngày càng thiếu thốn tiếp liệu đạn dược. Từ tháng 7-1974 quân đội chỉ xử dụng khoảng 19 ngàn tấn đạn một tháng so với 73 ngàn tấn một tháng thời gian trước đó, hoả lực giảm trên 70%. Theo ông Cao Văn Viên nạn đào ngũ (Những ngày cuối VNCH trang 79) khiến cho quân số thiếu hụt. Hàng tháng lính đào ngũ trung bình lên tới 1,5 hay 2 phần trăm tổng số quân và như vậy hàng năm quân đội mất đi gần 1/4 quân số, hàng năm phải tuyển mộ từ 200 tới 240 ngàn người để thay thế số thương vong, đào ngũ nhưng trên thực tế không tuyển mộ được đủ số tân binh như phỏng định vì nạn trốn quân dịch.

Cuối 1974 đầu 1975, CSBV đánh chiếm Phươc Long để thăm dò Mỹ. Trước nguy cơ sụp đổ, TT Thiệu gửi thư cho TT Ford xin Viện trợ bổ túc 300 triệu. Tháng 3-1974 BV tấn công chiếm Ban Mê Thuột, Quốc hội Mỹ bác bỏ khoản viện trợ cho miền Nam và không chuẩn chi cho năm tới 1976.

Tình hình quân sự ngày càng thê thảm, ông Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối VNCH, trang 92) cho biết vào tháng 2-75, đạn tồn kho chỉ còn đủ dùng khoảng 30 ngày. Tháng 4-1975, đạn tồn kho ở bốn kho dự trữ tuột dốc xuống mức thấp nhất chỉ đủ xài từ 14 đến 20 ngày. Kể từ sau Hiệp định Paris, VNCH không còn trông cậy vào yểm trợ của B-52 nữa.

Cuối tháng 3-1975, do kế hoạch tái phối trí lực lượng sai lầm của TT Thiệu đã khiến VNCH mất hai quân khu I và II, mất luôn cả hai quân đoàn 1 và II trong hai tuần lễ từ 14-3 tới 30-3-75. VNCH mất 5 sư đoàn bộ binh (22, 23, 1, 2, 3), 11 liên đoàn Biệt động quân, mất gần hết 2 sư đoàn tổng trừ bị.. vũ khí đạn dược coi như mất hết, một phần lớn lọt vào tay Cộng quân.

BV hối hả đưa nốt 3 sư đoàn tổng trừ bị (thuộc quân đoàn 1) vào Nam, Hà Nội dùng mọi phương tiện không quân, hải quân, đường bộ để chuyển quân gấp rút vào Nam bao vây Saigon. Họ dốc toàn bộ lực lượng vào Nam. Lực lượng tham chiến của BV vào khoảng gần 20 Sư đoàn (gồm 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232, sáu trung đoàn đặc công, 6 trung đoàn độc lập). Vũ khí đạn dược của BV gấp bội lần năm 1972.

Trong thời gian này tại Hoa Thịnh Đốn Kissinger báo cáo trong phiên họp Nội các:

Toàn bộ lực lượng của QĐBV hiện đã vào nam, chỉ cần một Lữ đoàn TQLC là ta có thể chiếm hết miền Bắc, một sự vi phạm trắng trợn (Larry Berman, No Peace No Honor trang 266). Ông cũng nói “Chúng ta không còn tiền để chơi ván bài”, sự thật Hành pháp đã bị Quốc hội trói tay.

Ngày 10-4-1975, VNCH còn hy vọng vào viện trợ khẩn cấp 722 triệu do TT Ford đưa ra Quốc hội, ngày 18-4 ngân khoản này bị bác bỏ. Nhiều chính khách nhận định khoản viện trợ này nếu được chấp thuận cũng chỉ kéo dài thêm sự hấp hối của miền Nam mà thôi. Ngày 21-4-1975, TT Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần văn Hương lên thay, mấy ngày sau ông Thiệu và Thủ tướng Khiêm rời Sài Gòn ra đi hôm 24-4.

Trở lại chuyện ông Dương văn Minh. Sải gòn có nhiều tin đồn về việc ông Dương Văn Minh sắp lên làm Tổng Thống thay Trần Văn Hương.

Cụ Hương lên thay ông Thiệu được bốn năm ngày bèn ngỏ lời với đồng bào về hiện tình đất nước trên đài phát thanh Sài Gòn, giọng sướt mướt, vừa nói vừa khóc.

Thưa đồng bào, tình hình hiện nay vô cùng bi đát… Một vùng Hai miền Trung đã hoàn toàn tan rã, vùng Ba, vùng Bốn nay cũng đã bị nhiều sứt mẻ. Rồi mai đây những trận đánh sấm sét sẽ đổ xuống và rồi thủ đô Sài Gòn này sẽ thành cái núi xương sông máu. Tôi đã nghĩ đến cái cảnh núi xương sống máu ấy và đã bàn với anh Dương văn Minh, tôi có nói với ảnh như vầy “Bây giờ tôi bàn giao chính quyền cho anh, nhưng bàn giao để anh tìm cái giải pháp hoà bình cho đất nước chứ bàn giao cho anh để anh đầu hàng thì bàn giao làm gì. . hở trời!!. .

Người dân vừa sợ vừa thông cảm cho cụ già vì cụ quá thật thà, cụ đã đem hết mọi bí mật quốc gia nói huỵch toẹt trên đài phát thanh!! Thực ra nay cũng chẳng còn bí mật gì để giữ.

Những lời đồn nay đã thành sự thật, ông Dương văn Minh sẽ lên làm Tổng thống. Theo lời kể của ông Nguyễn đình Toàn trong bài “Đại Tướng Dương Văn Minh: Em Làm Chứng Cho Goa” (Người Việt Dallas, tháng 4-2011), ông Toàn và các ông Đỗ đình Tứ, Nguyễn Văn Bình đi thuyết phục Dương Văn Minh ra nhận nhiệm vụ, Đại tướng thất vọng nói:

Đại Tướng trầm ngâm suy nghĩ, cúi đầu xuống một lúc rồi nói: “Em thấy đó, tối hổm Trung Tướng Đôn đã trình bày cho chúng ta biết về tình hình quân đội, về khả năng tái phối trí của quân đội… quân của mình hầu như tan hàng hết rồi, không thể nào có thể tái phối trí được nữa, quân tản mạn, phân tán khắp nơi, còn các kho vũ khí, súng đạn của mình trên nguyên tắc là dự trữ từ 3 đến 6 tháng, nay cũng không còn kiểm soát được nữa. Cả chục sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt đang áp sát Sàigòn, hàng chục ngàn hỏa tiễn 130 ly và 222 ly đang sẵn sàng bắn vào đây. Ngay cả chủ quyền tối thiểu của mình cũng không còn, phi trường Tân Sơn Nhất người Mỹ họ ra vào tự do, muốn đưa ai đi thì đưa, họ dùng đoàn xe MP và Thủy Quân Lục Chiến mở đường để đưa người của họ vào, Quân Cảnh mình có chặn lại cũng bị MP và Thủy Quân Lục Chiến Mỹ lên đạn uy hiếp nên đành phải để cho họ đi… Tình hình như vậy em bảo làm sao mà ” Goa ” dám nhận nữa? Vậy em nghĩ sao?

Ông Toàn và mấy người bạn nói:

Nếu Đại Tướng thương nước thương dân thì Đại Tướng phải biết hy sinh chứ? Nếu bây giờ Đại Tướng nói tình hình nó nguy hiểm như thế, nó khó khăn như vậy mà Đại Tướng không nhận nữa… thì Đại Tướng đâu có thương dân thương nước,

Tôi thuyết phục Đại Tướng cả gần tiếng đồng hồ như vậy, hai anh bạn tôi cũng nói thêm vào. Cuối cùng Đại Tướng nhìn thẳng vào tôi và nói:

“Bây giờ em nói sao? Em nói “Goa” phải ôm, nó là cái vạc dầu đang sôi, em biểu “Goa” ôm, “Goa” ôm rồi “Goa” chết một mình sao?

Nghe lời thuyết phục của ông Toàn, về sau Đại Tướng Minh nhận ra trách nhiệm cứu nước.

Tình hình quân sự khi ấy vô cùng nguy khốn. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn Ba VNCH tổ chức phòng thủ Sài Gòn trên 5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm thành phố xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly của BV.

Phía Tây Bắc là Tuyến Củ Chi. Tuyến Bình Dương ở phía Bắc. Tuyến Biên Hoà phía Đông Bắc. Tuyến Vũng Tầu và Quốc lộ 15 phía Đông. Tuyến Long An phía Nam . Lực lượng mỗi tuyến chưa tới một Sư đoàn trong khi VNCH gần hết đạn phải đương đầu với một lực lượng địch đông gấp năm, sáu lần với hỏa lực áp đảo.

Chiều ngày 28-4, Đại Tướng Dương Văn Minh lên nhậm chức Tổng Thống do Cụ Trần Văn Hương trao lại. Ông đọc diễn từ ngỏ lời cùng đồng bào, một lúc sau, năm máy bay CS ném bom phi trường Tân Sơn Nhât gây kinh hoàng cho cả thành phố Sài Gòn.

Ðúng bẩy giờ, đài BBC đọc bản tin tóm tắt về tình hình Việt Nam

“- Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử lên giữ chức vụ quyền Tổng thống thay thế ông Trần Văn Hương để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng.
- Năm phi cơ lạ ném bom phi trường Tân Sơn Nhất.
- Nhiều loạt súng nổ tại Sài Gòn không biết thuộc phe nào.”

Qua phần bình luận và nhận định người xướng ngôn cho biết lễ bàn giao chức vụ Tổng thống tại Dinh Ðộc lập chứng tỏ cho thấy sự tan rã của chính quyền Sài Gòn.

Sáng ngày 29-4, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đọc Văn thư của Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu cơ quan Tùy viên quân sự DAO phải rút lui trong vòng 24 giờ đồng hồ. Ngay sau đó đoàn trực thăng gồm 80 chiếc từ hạm đội vào phi trường Tân Sơn Nhất và tòa Ðại Sứ Mỹ để di tản 1,000 người Mỹ và 6,000 người Việt ra ngoài hạm đội sau 19 giờ bay liên tục.

Tối 29-4 ông Dương Văn Minh vẫn kêu gọi các lực lượng Quân đội VNCH trên đài phát thanh, lời kêu gọi lập đi lập lại suốt đêm.

Các vị Tư lệnh Quân đoàn, Sư đoàn hãy giữ vững vị trí và chờ lệnh mới

Các Tướng Tư lệnh Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Lê Nguyên Vỹ, Trần Quang Khôi… đã chiến đấu rất anh dũng trong những giờ phút cuối cùng nhưng không cứu vãn nổi tình thế. Cộng quân đã phá vỡ các phòng tuyến VNCH và tiến vào Thủ đô Sài Gòn. Lúc 10 giờ rưỡi sáng 30-4-75, ông Dương Văn Minh kêu gọi các cấp quân đội giao nạp vũ khí cho Quân đội Cộng Hòa miền nam VN nơi gần nhất để tránh đổ máu vô ích. Lúc 12 giờ trưa, Quân dội BV tràn vào dinh Độc Lập bắt ông Dương Văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

Tính ra ông Dương Văn Minh làm Tổng thống từ chiều tối ngày 28 -4 cho tới 12 giờ trưa 30-4 thì chỉ được có hơn một ngày rưỡi, chưa tới hai ngày. Nhiều người trách ông không rút về Quân khu Bốn tiếp tục chiến đấu nhưng vấn đề không đơn giản, nếu làm được thì người ta đã làm rồi. Khi ông vừa lên nhậm chức thì CSBV tấn công hối hả, ông chưa kịp trở tay thì đã bị địch xông vào dinh Độc lập thộp cổ rồi. Vấn đề rút về Quân khu Bốn không đơn giản, đạn dược còn bao nhiêu? tinh thần còn bao nhiêu? chiến đấu được bao lâu? Cầm chắc cái thua trong tay rồi chết thêm có lợi ích gì không?

Tác giả Vũ Ánh trong bài: 30 Tháng 4, 75 Và Cụ Nguyễn Văn Huyền, đăng trên trang mạng Nguoivietboston tháng 4-2012 đã tiếp xúc với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền khi ông tới đài Truyền hình Sài gòn chiều tối 28-4-1975. Cụ Phó cho biết đã nhịn nhục vào Tân Sơn Nhất gặp phái đoàn CS chỉ để yêu cầu họ đừng tấn công bằng hỏa tiễn vào Sài Gòn, chết người thêm vô ích. Cụ nói khi ông Thiệu bỏ đi ai cũng biết tình hình cuối cùng sẽ bi đát như hiện nay, cụ ra nhận trách nhiệm khi biết rõ không còn phương cách nào có thể cứu vãn được. Trước khi cụ quyết định nhiều người ngăn cản đừng dại gì làm việc trong hoàn cảnh này nhưng là kẻ sĩ thì không thể thiếu trách nhiệm được, thời bình thì xe ngựa xênh xang, khi đất nước tan hoang thì bỏ trốn.

Nhiều người trách ông Dương văn Minh đầu hàng giặc, nhưng nếu ông không ra cứu nước thì tình hình cũng không khác gì hơn. Chiều 28-4 các vị Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân đoàn Ba đã “tẩu vi thượng sách”. Cụ Hương biết làm gì hơn? Cụ cũng sẽ lên đài phát thanh than thở, khóc lóc cùng đồng bào và Cộng quân cũng sẽ tiến vào dinh Độc Lập bắt tuyên bố đầu hàng, hoặc một người thay mặt cụ tuyên bố hàng. Ông Dương Văn Minh chẳng có tội gì với đất nước.

Nhiều người khen ông Minh có công cứu nguy Sài gòn, nếu ông không lên làm Tổng thống và nếu không kêu gọi đầu hàng thì Việt Cộng đã pháo kích chết hết, thành phố tan nát. Như đã nói ở trên Tướng Toàn thành lập năm tuyến phòng thủ Sài Gòn cách trung tâm thành phố 27 cây số, bằng tầm pháo cùa đại bác 130 ly của quân thù.

Tại trận Ban Mê Thuột tháng 3-1975, Cộng quân không đánh theo lối bóc vỏ mà đánh chiếm thị xã trước rồi từ đó mới đánh ra các quận bên ngoài. Khi đánh Sài Gòn thì ngược lại, họ đánh theo lối bóc vỏ, tấn công phá sập các tuyến phòng thủ bên ngoài rồi mới tiến vào trung tâm thành phố. Mà thực ra sau khi vòng đai bảo vệ Sài Gòn sụp đổ thì các ổ kháng cự bên trong thành phố không còn bao nhiêu, VC chẳng cần phải pháo kích cho tốn đạn, ông Dương Văn Minh cũng chẳng có công trạng gì.

 
© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

————————————————————

Tham Khảo

Richard Nixon: No More Vietnams , Arbor House, New York 1985
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam -The Free press 2001
Marvin Kalb and Bernard Kalb: Kissinger; Little, Brown and company 1974
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography 2003
Vũ Ánh: 30 Tháng 4, 75 Và Cụ Nguyễn Văn Huyền, Nguoivietboston.com, tháng 4-2012..
Nguyễn Đình Toàn: Đại Tướng Dương Văn Minh: “Em làm chứng cho Goa nha!”, Người Việt Dallas, tháng 4-2011.