Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015


BA DẤU ẤN CỦA CHÁNH PHÁP
(TAM PHÁP ẤN)

Nguyên Tuấn



A- Dẫn nhập

Tam pháp ấn là giáo lý mang tính pháp định trong hệ thống giáo lý của Phật giáo. Trong kinh Tương Ưng III, Ðức Phật đã có lần hỏi các thầy Tỳ kheo:
Này các thầy, cái gì được thấy,được nghe, được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy, cái ấy là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có thể khởi lên suy nghĩ: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?
- Thưa không, bạch Thế Tôn” (vô ngã).
Như vậy, vô thường, khổ và vô ngã là ba dấu ấn xác định, chứng nhận tính chính thống của giáo lý đạo Phật. Mọi giáo lý của đạo Phật đều phải mang ba dấu ấn đó. Chính vì tính chất quan trọng này mà Tam Pháp ấn luôn được nhắc đến trong hầu hết kinh điển, từ kinh tạng Nam truyền đến Bắc truyền và cả trong các bộ luận quan trọng như luận Ðại Trí Ðộ của Bồ tát Long Thọ.

B- Nội dung

I. Ðịnh nghĩa: Ấn là chiếc ấn hay khuôn dấu. Pháp có nghĩa là chánh pháp hay toàn bộ hệ thống tư tưởng trong lời dạy của Ðức Phật được ghi lại trong ba tạng thánh điển. Pháp ấn có nghĩa là khuôn dấu của chánh pháp.
Tam Pháp ấn là ba khuôn dấu của chánh pháp gồm vô thường, khổ và vô ngã. Ba khuôn dấu hay tính chất này xác định tính chính thống và đích thực của giáo lý đạo Phật nhằm đảm bảo mọi suy tư, ngôn thuyết, diễn giải, thực hành của người Phật tử không vượt ra ngoài mục tiêu giải thoát mà Ðức Thế Tôn đã tuyên thuyết. Mọi giáo lý không có ba khuôn ấn trên đều không phải của đạo Phật.

Trong kinh tạng A Hàm, đôi khi Ðức Phật cũng dạy về Tứ Pháp ấn là vô thường, khổ, vô ngã và Niết bàn (kinh Tăng Nhất A Hàm - phẩm Tăng thượng thứ 23). Tuy nhiên, đấy chỉ là sự triển khai của Tam Pháp ấn. Bởi lẽ, Niết bàn chỉ là tên gọi khác của vô ngã như Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã khẳng định: “Niết bàn là một cái gì tuyệt đối không dung ngã... Hữu ngã là luân hồi mà vô ngã là Niết bàn” (Vô ngã là Niết bàn, tr.65).
Tứ pháp ấn đôi khi cũng được phát biểu là vô thường, khổ, vô ngã và không (kinh Tăng Nhất A Hàm - phẩm Thất tà tụ thứ 2). Cũng như trên, “không” vẫn chỉ là một cách nhìn khác về các điều kiện duyên khởi của mọi sự, mọi vật. Một hữu thể được gọi là vô ngã hoặc không vì bản chất của
nó là do điều kiện nhân duyên tạo thành. Do vậy, có thể xem vô thường, khổ và vô ngã là một định thức chuẩn mực, tổng quát của Tam Pháp ấn.

II. Nội dung Tam Pháp ấn:

1)- Pháp ấn thứ nhất: Vô thường (Anitya)
Pháp ấn đầu tiên hay khuôn ấn đầu tiên là vô thường. Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến đổi, thay đổi, không cố định. Mọi giáo lý, học thuyết nào không mang dấu ấn
này thì không phải là Phật pháp.

- Theo đạo Phật, tất cả mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian do các tập hợp duyên sanh đều mang tính vô thường. Nói cách khác, vô thường nghĩa là sự vật không mang tính đồng nhất bất biến. Hòn núi là một tập hợp duyên sanh, thân thể con người là một tập hợp duyên sanh, lá cây rụng bên đường là một tập hợp duyên sanh, cho đến hạt bụi nhỏ cũng là tập hợp do duyên mà hiện hữu. Do vậy, hòn núi, thân thể con người, lá cây, hòn sỏi, hạt bụi... đều luôn biến đổi, không bao giờ có tính đồng nhất và phải chịu sự tác động của vô thường. Mọi sự, mọi vật trong thế giới hiện tượng từ các vật thể vĩ mô đến các thế giới vật chất hạt cực nhỏ vi mô như nguyên tử, hạt proton, hạt neutron... luôn biến chuyển, thay đổi liên tục không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, không chỉ trong thế giới vật chất mà ngay cả trong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn có mặt.

- Trong đạo Phật, con người là sự cấu hợp của hai thành phần DanhSắc, hay phần tinh thần - các trạng thái tâm lý, và phần vật chất - thân thể sinh-vật lý, và hai thành phần này luôn ở trong
trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối chảy mãi không ngừng trong đời sống con người. “Nó giống như giọt sương buổi sáng tan đi khi mặt trời vừa moc; nó giống như bọt nước, như một dòng thác cuốn trôi đi tất cả những gì nó gặp và trôi chảy mãi không ngừng; nó giống như một con vật tại lò sát sanh, lúc nào cũng đương đầu với cái chết” (Tăng Chi Bộ kinh III, tr.70). Mọi hoạt động, vận hành tâm lý: cảm giác, tri giác, tình cảm, tư duy... của con người luôn
tồn tại trong khoảng thời gian cực ngắn mà đạo Phật gọi là sát na (Sankrit: Kohana: một khoảng thời gian cực ngắn. Mỗi niệm tưởng thoáng qua trong tâm thức có 90 sát na).
Trong khoa tâm lý học, các biến chuyển trạng thái tâm lý theo thời gian được chia làm hai loại là thường biến tâm lý và đột biến tâm lý.

- Thường biến tâm lý là sự thay đổi các trạng thái tâm lý theo những phản xạ chức năng của ý thức và tập quán nghiệp. Ví dụ như vui thì cười nhưng sau đó buồn thì khóc lóc, ưu sầu. Thành đạt thì vui mừng, thất bại thì đau khổ, buồn rầu...
- Ðột biến tâm lý là sự biến đổi tâm trạng đột ngột trong khoảng thời gian rất ngắn. Tần số dao động tâm diễn ra rất nhanh. Ví dụ như trạng thái tâm dao động, tán loạn trong khi gặp các sự cố nguy hiểm: nhà cháy, người thân qua đời....

Thường biến hay đột biến tâm lý đều phản ánh tính vô thường trong phương diện tinh thần của đời sống con người. Thế nhưng hiện tượng vô thường không tất yếu đưa đến khổ - pháp ấn thứ hai. Trong đoạn kinh ở phần dẫn nhập, nếu chỉ hiểu đơn giản rằng hễ vô thường là khổ, thì khi đó giáo lý vô thường không còn là một khuôn dấu của chánh pháp nữa. Trong thực tế, nếu không có vô thường thì sẽ không thể có sự sống và không thể có sự phát triển. Nếu hạt thóc giống thường tại thì nó không bao giờ trở thành cây lúa cho ra những hạt gạo trắng được, nếu sự vật không vô thường thì lịch sử tiến hóa của nhân loại sẽ không thể có và nền văn minh nhân loại sẽ chỉ luôn tồn đọng ở thời kỳ đồ đá cũ nguyên sơ. Và nếu không có sự tác động của vô thường thì chúng ta sẽ không bao giờ có hy vọng đoạn tận các tập khí tham ái phiền não đang tiềm ẩn sâu kín trong nội tâm chúng ta. Do vậy, giáo lý vô thường đem lại niềm tin cho mọi nỗ lực sáng tạo và phát triển của con người. Vô thường là đặc chất đích thực của sự sống.

2)- Pháp ấn thứ hai: Khổ (Dukkha)
Khổ trong tiếng Pàli Dukkha có nghĩa là sự bức bách, khó chịu, sự nóng bức... Theo Hán tự, “Khổ” có nghĩa là đắng - hàm ý sự đau khổ trong thế giới hữu tình chứa đựng nhiều vị đắng chát, chua cay, đem lại cảm giác bất an. Ðức Phật đã diễn tả sự khổ đau của con người như một sự bùng cháy, đổ vỡ của toàn thể thế giới: “Toàn thể thế giới bốc cháy, toàn thể vũ trụ đắm chìm trong khói lửa, toàn thể vũ trụ làm mồi cho lửa, toàn thể vũ trụ run lập cập” (kinh Tương Ưng Bộ, tr.133).

Khổ là một sự thật mang tính phổ biến và hiện diện với nhiều hình thái đa dạng. Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều đã diễn bày nỗi khổ trần gian như một định chế đeo mang trọn một kiếp người:
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sanh, kinh, cụ làm đau mấy lần
(Cung Oán Ngâm Khúc, câu 59-60)

Trong đạo Phật, khổ đau trong đời sống con người có đôi khi được trình bày qua 8 hiện tượng là: 1- Sanh là khổ. 2- Già là khổ. 3- Bệnh là khổ. 4- Chết là khổ. 5- Buộc lòng phải sống chung với người mình không ưa thích là khổ. 6- Phải xa lìa những người thân yêu là khổ. 7- Mong muốn mà không được là khổ. 8- Chính thân ngũ uẩn là khổ. Cách nhìn này được Ðức Phật dạy trong bài pháp cực kỳ quan trọng, kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana sutta), cho
năm vị đệ tử đầu tiên tại vườn Lộc Uyển. Trong các kinh về sau, khổ được phân biệt thành ba loại là khổ khổ, hoại khổhành khổ. Cách nhìn này đơn giản hơn và có thể giúp ta tìm căn nguyên của khổ.

- Khổ khổ (Dukkha dukkhata) có nghĩa là một cảm thọ khó chịu (khổ thọ). Ví dụ như cảm giác đau đớn vì một chiếc răng hư là một khổ thọ, trời lạnh mà không có áo ấm thân thể run cập là một khổ thọ, chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của người thân yêu là một khổ thọ, bị người khác chọc giận làm thương tổn đến danh dự, tức đến đỏ mặt tía tai là một khổ thọ... Nói chung, những cảm giác bất an trong thân thể vật lý và các trạng thái tâm-sinh lý đều là khổ thọ, loại khổ thứ nhất.
- Hoại khổ (Vinarupamam dukkhata) có nghĩa là những thứ vốn không khổ nhưng khi tiêu hoại thì sẽ tạo ra khổ. Ví dụ: khi còn trẻ, thân thể chúng ta rất khỏe mạnh, nhưng khi tuổi già đến, thân ta sẽ suy nhược, lá gan của ta hiện giờ không bệnh nhưng theo thời gian nó sẽ yếu, sẽ bệnh, sẽ mất khả năng làm tiêu chất cholesterol. Nụ cười và khuôn mặt rạng rỡ ngày hôm nay có thể sẽ biến mất để nhường chỗ cho những giọt nước mắt ưu sầu ở ngày mai. Hễ có sinh thành là có hoại diệt. Ý tưởng này dễ đưa tới những cách nhìn bi quan. Do vậy, những thứ bây giờ tốt cách mấy cũng mang sẵn mầm khổ trong ấy. Nói cách khác, sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác, sự biến hoại trong cơ chế tâm-sinh-vật lý của con người đem lại sự bất an, bứt rứt, không an tịnh trong tư duy và tình cảm là hoại khổ.
- Hành khổ (Samskhara dukkhata): Hành là các hiện tượng kết tập các điều kiện nhân duyên mà thành. Trong kinh Ðại Bát Niết Bàn, có hai câu mà Ðức Phật luôn nhấn mạnh “chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp”, có nghĩa là những thứ gì do nhân duyên tạo thành, sinh ra đều là vô thường, đều thuộc về thế giới tương đối, thế giới của sanh và diệt, của luân hồi sanh tử. Thân thể, thế giới bên ngoài thân ngũ uẩn, hoàn cảnh sống, các trạng thái tâm lý của con người như đã nói đều là nhân duyên sanh nên phải chịu sự tác động của vô thường. Vô thường, thay đổi thì thế nào cũng đưa đến khổ. Cho nên trong các hành, các hiện tượng đều chứa sẵn hạt giống của khổ hay gọi là hành khổ.

Cả hai cách trình bày về khổ mang tính phân loại trên đều mang tính phổ quát. Thật ra, bất cứ khi nào phiền não xuất hiện thì khi đó khổ đau có mặt; và chỉ khi nào dòng tâm thức chúng ta không còn bị quấy nhiễu bởi bóng hình của phiền não thì khi đó mới là an lạc.
Trong các bộ luận của Phật giáo có đề cập đến nhiều loại phiền não. Chẳng hạn trong 5 vị - 75 pháp của luận Câu Xá (Abhidharma Kosa) do ngài Thế Thân viết vào đầu thế kỷ thứ V TL, có 6 đại phiền não và 10 tiểu phiền não; Duy thức học, môn tâm thức học của Phật giáo thời phát triển, đã triển khai thành 6 loại phiền não chính và 20 loại tiểu tùy phiền não. Hẳn nhiên, đó cũng
chỉ là những con số mang tính chất tượng trưng. Có rất nhiều loại phiền não và tùy thuộc vào tần số xuất hiện của chúng mà mức độ thống khổ sẽ khác nhau.

Do vậy, hiện tượng vô thường không hẳn là nguyên nhân của mọi khổ đau trong cuộc sống. Nguyên nhân của khổ nằm trong nhận thức và thái độ sống tích cực hay tiêu cực của con người. Nhận thức là thấy rõ và đánh giá về một sự kiện, còn thái độ sống thuộc về hành vi và tâm lý chủ động của con người trước sự kiện đó. Sự vật luôn luôn biến đổi vô thường mà chúng ta cứ tưởng và mong ước chúng sẽ thường còn, tồn tại mãi mãi. “Cái khổ của con lừa, con lạc đà chở nặng,
cái khổ của kẻ trôi lăn trong lục đạo chưa gọi là khổ. Ngu si không nhận thức được thực tại, không biết được hướng đi mới thật là đau khổ” (Sa di luật giải, tr.103). Chính nhận thức sai lạc, cho những gì vô thường là thường tại, cho nên phát sinh mọi khổ đau.

Thế nhưng, vì sao khổ lại là một Pháp ấn của chánh pháp?
Trong một lần, tại rừng Ta La song thọ ở Kosambi (Kiều-thướng-di), Ðức Thế Tôn đã dạy các thầy Tỳ kheo về lý do Ngài tuyên thuyết Bốn chân lý cao thượng (Tứ diệu đế):
Này các thầy, Như Lai đã dạy các thầy những gì? Như Lai đã dạy các thầy các sự thật về đau khổ, nguyên nhân đau khổ, đoạn diệt đau khổ và con đường đi đến diệt khổ. Tại sao Như Lai dạy các thầy bốn chân lý đó? Vì chúng thật sự có ích và cần thiết để đi đến một đời sống lý tưởng, vì chúng làm cho các thầy từ bỏ mọi dục lạc, giải thoát khỏi mọi say đắm, chấm dứt mọi khổ đau, đi đến thanh tịnh, giác ngộ, Niết bàn” (Tương Ưng Bộ Kinh V, tr.437).
Như vậy, khổ đau chính là phát biểu ngắn gọn của Tứ Diệu đế trong giáo lý Tam Pháp ấn và cần được xem là một vấn đề thường trực trong thực tại cuộc đời và cả trong ý thức của người Phật tử.

Chúng ta chỉ có thể trị được bệnh khi ý thức là chúng ta đang bệnh. Cũng vậy, giải thoát khổ đau chỉ trở thành hiện thực khi người Phật tử biết ý thức và thực nghiệm về khổ đau trong cuộc sống nội tại. Một khi không nhận chân về chân tướng của cuộc đời và nuôi dưỡng ảo tưởng cuộc đời là hạnh phúc, bị buộc ràng trong cuộc sống vật chất dễ dãi, chúng ta rất dễ đánh mất đi mục đích tu tập của mình. Can đảm nhìn thẳng vào khổ đau để giải quyết, đó là nhận thức căn bản. Như hoa sen được nuôi dưỡng bằng đất bùn, lý tưởng giải thoát được nuôi dưỡng bằng nhận thức căn bản ấy.

Toàn bộ hệ tư tưởng, đạo học của Phật giáo cũng được bắt nguồn từ nhận thức ấy. Có thể khẳng định không một kinh điển nào trong đạo Phật không đề cập đến khổ và con đường đi ra khỏi khổ đau. Chính vì vậy, khổ đau được xem là một khuôn dấu của chánh pháp.

3)- Pháp ấn thứ ba: Vô ngã (Anatma)
Vô ngã là giáo lý đặc biệt quan trọng trong Phật giáo. Giáo lý này là hệ quả thẩm sát liên tục các nguyên lý duyên khởi - vô thường. Vô thường là tính thay đổi trong khi vô ngã là tính không đồng nhất. Khi một cái gì do nhân duyên mà thay đổi thì nó không còn tính cách đồng nhất, do đó nó vô ngã, hay về bản chất nó không có chủ thể riêng biệt. Ví dụ nói cái bàn là vô thường là bởi vì chúng ta thấy rõ nó đang thay đổi, đang biến hoại dần dần về hình thức; nhưng nói cái bàn là vô ngã thì chúng ta phải nhìn bằng cái nhìn duyên khởi. Trong cái nhìn đó, cái bàn là một tập hợp của các điều kiện nhân duyên, của cây gỗ, của công sức người thợ...

Nhiều hệ tư tưởng khác cũng đã đề cập đến ý niệm vô thường. Chẳng hạn, khi đứng trên bờ sông nhìn xuống dòng nước đang trôi chảy, Ðức Khổng Tử đã viết: “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ?”, nghĩa là “Trôi chảy hoài, ngày đêm không thôi, như thế này ư?”. Héraclite cũng nhìn tính vô thường qua dòng sông nhưng với góc độ khác: “Bước xuống cùng một dòng sông, thường gặp phải những dòng nước mới. Linh hồn cũng thoát ra từ nơi ẩm ướt” (Theo Triết học Hy Lạp - La Mã, Viện KHXH TP HCM, 1994). Cả Nho gia và triết học phương Tây nhìn chung tuy có ý niệm về tính vô thường, nhưng dường như không có ý niệm về tính vô ngã trong vạn sự, vạn vật. Do đó, có thể nói giáo lý vô ngã của Ðức Phật là một giáo lý mang tính cách mạng rất vĩ đại. Ngay trong bài pháp thứ hai tại vườn Nai, kinh Vô ngã tướng (Anattalakkhana sutta), Ðức Phật đã dạy tính vô ngã trong thân năm uẩn của con người:
Này các thầy, sắc (rùpa: thể chất, thân thể vật lý) này là vô ngã. Này các thầy, nếu trong sắc có ngã như vậy, sắc không phải chịu đau khổ và ta có thể ra lệnh ‘sắc phải như thế này hay phải như thế kia’. Nhưng vì sắc không có ngã (vô ngã), nên sắc này còn phải chịu khổ đau và không thể có trường hợp (ra lệnh) ‘sắc này phải như thế này hay sắc phải như thế kia’ ” (Tương Ưng Bộ Kinh III, tr.66).

Các uẩn còn lại: thọ (cảm giác), tưởng (tri giác), hành (các trạng thái tâm lý và thái độ tâm lý), thức (nhận thức) cũng tương tự. Cả năm uẩn tạo thành một ý niệm giả tạo về một “cái ngã” hay một hữu thể chúng sanh đồng nhất, không thay đổi. Từ đó rất dễ dàng sanh ra tâm lý tham đắm, mê say, ôm âp, bảo thủ và chấp chặt vào những gì thuộc về năm uẩn (ngã sở). Thế nhưng, mọi hữu thể hay ngã thể ấy luôn chuyển biến theo quy trình tương quan duyên khởi. Sự sinh thành và hoại diệt trong hình thể và ngay trong bản chất của năm uẩn là kết quả của các điều kiện nhân duyên và quá trình sanh-già-bệnh-chết, hay hình thành-tồn tại-thay đổi, hoại diệt-tiêu hủy, luôn là chân lý công ước cho mọi con người và mọi loài, mọi vật.

Một lần, tại thành Xá Vệ, Ðức Phật cũng dạy các thầy Tỳ kheo về tính vô ngã trong một vật thể nhỏ bé như miếng phân bò:
Này các thầy, cho đến một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, thường trú. Nếu có một ngã thể nhỏ như thế này, này các thầy, là thường còn, thường hằng... thường trú, thì đời sống phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày” (Tương Ưng Bộ Kinh III, phẩm Hoa, tr.259).
Sự thiếu suy tư, cân nhắc trong hành vi đối với thực tại vô ngã của vạn sự, vạn vật thường là nẻo đường dẫn đến các phiền lụy, tham ái - nguyên nhân gần dẫn đến khổ đau. Pháp ấn vô ngã không những xác định tính pháp định của chánh pháp mà còn là đặc tính riêng biệt trong giáo lý đạo Phật. Chính vì tầm quan trọng này, vô ngã được xem là pháp ấn thứ ba trong Tam Pháp ấn.

III. Mối liên hệ giữa Tam Pháp ấn trong cơ chế tâm lý của người tu tập:

Ưu tư lớn nhất đối với người tu tập là làm sao tìm được sự an tịnh nội tâm trong cuộc sống. Mọi phương pháp hành trì (pháp môn tu tập) trong đạo Phật đều có định hướng đưa người tu tập vượt khỏi bức màn vô minh, tham ái - nguồn gốc của khổ đau. Vô minhtham ái chính là hai cội rễ của mọi suy tư, hành vi thiên chấp. Một khi thái độ sống của chúng ta bị nhuốm màu chấp thủ (bảo thủ ý kiến và bị cột chặt trong tư tưởng nào đó), khi đó khổ đau có mặt. Hai ý niệm mà con người thường bị lôi cuốn và bị buộc ràng là “cái tôi” hay tự ngã và các quan điểm, lý thuyết, học thuyết tư tưởng... Trong đạo Phật, sự chấp thủ hai đối tượng này được gọi là ngã chấp pháp chấp.

Ngã chấp là chấp chặt vào ý niệm cho rằng mọi sinh thể trong đời đều có một bản chất đồng nhất hay một “linh hồn” tồn tại mãi mãi. Trong khi đó, pháp chấp lại thuộc về sự bảo thủ trong quan niệm, ý kiến và cho rằng chúng luôn luôn đúng trong mọi trường hợp, với mọi con người khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau. Chẳng hạn, trong kinh Brahman sutra của học phái Védanta, một học phái ở Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật, con người được xem là thuộc về một cái ngã, và cái ngã ấy do Phạm Thiên (Brahman: tương tự khái niệm Thượng đế của một số tín ngưỡng ngày nay) sanh ra. Từ đó sinh ra ý niệm con người chỉ là một bộ phận của Phạm Thiên, từ vô thỉ đến nay tuy khác hình tướng (nghĩa là mỗi người sanh ra đều có dung mạo, hình dạng khác nhau) nhưng đồng nhất và bị an bài trong hệ thống luân hồi. Do vậy, mục đích duy nhất trong đời sống
ấy chỉ là khoảng thời gian đi tìm lối ra khỏi luân hồi để tự giải thoát và trở về hợp nhất với cội gốc cũ của mình là Phạm Thiên.

Các quan điểm và học thuyết ca tụng, cổ xướng cho ý niệm “có một thực thể vô hình thường còn mãi mãi trong mỗi hiện hữu” như vậy dường như hiện diện trong hầu hết các tôn giáo cùng thời Ðức Phật và còn ảnh hưởng khá đậm nét trong đời sống tinh thần của nhân loại ngày nay. Do vậy, nền đạo học Phật giáo trên cơ sở Tam Pháp ấn mang tính cách mạng như trên thường tạo ra những mối ưu tư như: “Nếu con người luôn biến đổi, vô thường, không có thật ngã thì ai tạo nghiệp, ai chịu quả báo?”, hay “Nếu không có ngã thì cái gì sanh tử luân hồi trong các thú?”... (Theo Thành Duy Thức Luận - HT Thích Thiện Siêu dịch và chú, tr.38 & 39).

Trong kinh Năm vị - Tương Ưng Bộ kinh III, Ðức Phật đã dạy các thầy Tỳ kheo phương pháp quán niệm về bản chất thật sự của thân năm uẩn trong khi tu tập trên cơ sở Tam Pháp ấn như sau:
Này các thầy, các thầy nghĩ thế nào sắc... thọ... tưởng... hành... thức... là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn, là vô thường.
- Cái gì mà vô thường thì là khổ hay là lạc?
- Bạch Thế Tôn, là khổ.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý không khi quán cái ấy là: cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?
- Bạch Thế Tôn, không hợp lý.
- Do vậy, này các thầy, thân năm uẩn này dù ở quá khứ, hiện tại, vị lai hoặc ở trong thân hay ở ngoài thân, thô hay tế, thắng hay liệt, xa hay gần, cần phải được như thật quán với chánh trí như sau: Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”.
Lời dạy trên chính là câu đáp trọn vẹn và khái quát nhất cho tất cả mọi nghi vấn phát xuất từ ý thức chấp thủ và bảo vệ tự ngã.

Tuy nhiên, cần hiểu vô thường, khổ và vô ngã theo tinh thần của giáo lý duyên khởi. Trong đạo Phật, một giáo pháp trùm chứa tất cả các giáo pháp khác, và tất cả giáo pháp sống nằm ở trong tâm thức mỗi người. Ðó là tinh thần của các câu: “Nhất pháp nhập nhất thiết pháp, nhất thiết pháp nhập nhất pháp” và “Nhất thiết duy tâm tạo” trong kinh Hoa Nghiêm (quyển V, phẩm Thiện Tài đồng tử sở vấn, tr.316 & 478). Do vậy, trong thực tại của thế giới hiện tượng, vô thường cũng chính là vô ngã khi đứng về phương diện thời gian để thẩm định. Và khổ đau thật sự không phải nằm trên bình diện hiện tượng sanh tử, thành hoại của con người và thế giới, mà phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của con người đối với tính vô thường - vô ngã của vạn sự, vạn vật.

C- Kết luận

Nhận thức đúng hay có chánh kiến đối với các hoạt động tâm-sinh-vật lý của bản thân là có cái nhìn thật rõ về ba Pháp ấn vô thường - khổ - vô ngã của năm uẩn. Chừng nào mọi suy tư của con người còn bị buộc ràng trong các ý niệm về sự thường trú vĩnh hằng của tự ngã và các pháp chấp sai lầm, khi đó Tam Pháp ấn vẫn còn giá trị và hiện hữu giữa cõi đời.

Với người Phật tử, Tam Pháp ấn chính là ba chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào giải thoát, là ba phương pháp quán niệm để chuyển hóa tự thân. Và vô thường, khổ, vô ngã như đã trình bày cũng là các khuôn dấu, nguyên lý y cứ để hiệu chỉnh, tái thẩm định mọi lý thuyết, ngôn luận, pháp môn tu tập trong đạo Phật./.

Nguyên Tuấn


Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, Sài Gòn, 1999-2000

BÀI PHỎNG VẤN CỰU TRUNG TƯỚNG TÔN THẤT ĐÍNH
Đoàn Trọng / Vietherald  số ra ngày 05/25/2011

Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính, nhân vật đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam trước 1975. Năm 1963, trong cương vị Tổng trấn Saigòn-Gia Định kiêm chỉ huy quân đoàn III, tướng Đính đã đóng vai trò quyết định cho sự thành công của cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Tổng Thống Diệm. Sau đảo chánh, ông được vinh thăng trung tướng, giữ chức tổng trưởng bộ An Ninh, rồi nắm giữ tư lệnh quân đoàn I. Cuối cùng, ông đắc cử thượng nghị sĩ quốc hội cho đến lúc bỏ nước ra đi ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Nhân dịp tháng tư đen vừa qua, chúng tôi đã có buổi tiếp xúc và được ông chia sẻ một số sự kiện lịch sử miền Nam trước khi xảy ra biến cố đau thương này. Dưới đây, chúng tôi ghi lại cuộc tiếp xúc cùng cựu Trung tướng Tôn Thất Đính như sau:

Việt Herald (VH): Kính chào Trung Tướng, nhân lễ Phật Đản 2555 tổ chức tại chùa Điều Ngự, là một tướng lãnh cao cấp, đồng thời một nhân vật chính trị từng tham gia nội các ở các chức vụ phó thủ tướng, bộ trưởng và cuối cùng là thượng nghị sĩ tại quốc hội VNCH trước năm 1975, ông cảm nhận có sự khác biệt về ngày lễ hôm nay so với những năm tháng còn ở quê nhà không?
Trung Tướng Tôn Thất Đính: Lẽ dĩ nhiên theo dòng thời gian, những ngày lễ được tổ chức có phần khác nhau. Năm nay, trong tinh thần ngày đại lễ Đản sinh đức Phật này, tôi ghi nhận thấy có phần náo nhiệt hơn, và ngày càng cho thấy tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa đồng bào Phật tử được thể hiện tốt hơn. Những đố kỵ, chia rẽ, càng lúc càng bị đẩy lùi vào quá khứ. Tôi cũng hiểu rõ thêm Phật giáo hải ngoại đoàn kết hơn Phật giáo trong nước lúc này.

VH: Ngược dòng thời gian, nói về cuộc đảo chánh năm 1963, Trung tướng nghĩ thế nào trước dư luận cho rằng ông đã đóng vai trò then chốt trong việc chấm dứt chế độ Tổng Thống Diệm trên sân khấu chính trường để dành lại tự do tín ngưỡng cho Phật Giáo?
TT Tôn Thất Đính: Nếu nói về mình, chắc không dám. Tuy nhiên, cho đến bây giờ và mãi mãi, tôi vẫn tự hào đã cứu được Phật giáo qua cơn pháp nạn thời đó.Tôi đã cân nhắc và nhận rõ điều này trước khi tham gia đảo chánh. Cũng nên hiểu và thành thật nhìn nhận là trong thời điểm ấy, Tổng Thống Diệm đã dành cho tôi nhiều ân huệ cũng như sự tin tưởng, trọng dụng tôi hơn hẳn nhưng viên chức tướng lãnh của chế độ thời đó.

VH: Trung tướng vừa nói “Chính ông đã cứu Phật giáo qua cơn pháp nạn,” vậy ông có thể trình bày cụ thể sự việc “Cứu” như thế nào không?
TT Tôn Thất Đính: Nếu ai còn nhớ rõ hiện tình Saigòn vào thời điểm 1963, hẳn đều biết đến một Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, ngoài việc đảm nhiệm phần hành chỉ huy quân đoàn III, tôi còn được Tổng Thống Diệm tin tưởng trao thêm chức vụ Tổng trấn Saigon-Gia Định. Mọi hoạt động quân sự trong địa bàn này đều trực thuộc dưới quyền điều động của tôi, điển hình như việc đưa lực lượng đặc biệt của Đại Tá Lê Quang Tung ra khỏi thủ đô Saigon là do sự chấp thuận cuối cùng của tôi. Đến nay, dư luận vẫn nhận rõ “Chỉ có tôi mới giúp đưa cuộc đảo chánh loại bỏ chế độ gia đình trị của Tổng thống Diệm đến thành công và đồng thời, cứu Phật Giáo qua cơn pháp nạn.”

VH: Ông vừa xác nhận “chính trung tướng Tôn Thất Đính đã đóng vai trò quan trọng việc đảo chánh năm 1963.” Vậy, ông có thể từ chối mình cũng đã đóng vai trò quan trọng trong việc “mưu sát” anh em cố Tổng Thống Diệm không?
TT Tôn Thất Đính: Tôi nhìn nhận về mặt tinh thần, tôi có phần trách nhiệm. Nếu không có đảo chánh, làm sao đưa đến cái chết của 2 anh em ông Diệm? Thế nhưng thật sự, trước lúc xảy ra biến cố này, tôi hoàn toàn không được cho biết. Ông Diệm đã vi phạm đến tự do tín ngưỡng của Phật giáo, là điều khó có thể chấp nhận được trong một quốc gia chủ trương tự do, dân chủ. Nhưng dầu thế nào, vẫn không nên quên chính ông Diệm là người đã có công khai sáng nền cộng hòa đầu tiên cho Việt Nam.

VH: Thiết nghĩ trong vai trò lãnh đạo đảo chánh, bắt buộc ông phải tiên liệu được sự kiện mưu sát anh em ông Diệm, có khả năng xảy ra rất nhiều. Nếu đặt lương tâm của vị tướng lãnh chỉ huy chiến dịch đảo chánh trước lịch sử thì với khả năng, quyền hạn của mình trong tay, ông có thể ngăn chận vụ “mưu sát” này không? Hay là ông không muốn ngăn chận?
TT Tôn Thất Đính: Tôi nhìn nhận “Có đủ khả năng ngăn chận” nhưng thật không ngờ, người chủ trương việc này lại là người cầm đầu cuộc đảo chánh. Nhân vật trực tiếp thi hành phần vụ sát hại anh em tổng thống lại chính là sĩ quan tùy viên của tướng Dương Văn Minh, người cầm đầu cuộc đảo chánh. Tôi dù cũng nắm giữ vị trí then chốt nhưng trong thực tế, chỉ cầm quân đánh thành Cộng Hòa, dinh Độc Lập, nên thú thật lúc dầu sôi lửa bỏng, không có thời giờ suy nghiệm ra chuyện này. Khi biết thì chuyện đã rồi, chúng ta hãy để lịch sử phán xét. Là tướng lãnh chỉ huy, tôi chịu trách nhiệm cả về thành công cũng như thất bại và cả những rủi ro ngoài lượng định.

VH: 48 năm sau cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm, ngày nay hồi tưởng lại, Trung tướng có khi nào nhớ đã nhận tiền của tòa đại sứ Mỹ tài trợ cho các tướng lãnh tham gia đảo chánh không?
TT Tôn Thất Đính: Thật là quá oan ức. Đấy là luận điệu của những người nhiều ác ý. Cá nhân tôi chưa hề nhận bất cứ số tiền nào đến từ phía người Mỹ.

VH: Nếu ông không nhận, liệu có những người khác đã nhận không?
TT Tôn Thất Đính: Tôi không rõ, cũng không biết chuyện người khác.Tuy nhiên, người Mỹ họ không thiển cận để làm những việc bất hợp pháp như thế đâu. Phía người Mỹ đã thúc đẩy chúng tôi đảo chánh vì chính họ cũng chán ngán chế độ ông Diệm. Cho nên, nói trao tiền thì tôi không thấy. Điều mà sau này chúng tôi nhìn nhận đã có phần thiếu trách nhiệm là không đưa được đảo chánh đi đến thành công có ý nghĩa hay đem lại thành quả vững chắc. Việc miền Nam mất vào tay cộng sản cũng là do không đảm đương đúng trách nhiệm mà đồng bào giao phó cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, trong đó có tôi. Việc các tướng lãnh giành giật nhau, chia quyền, gây phân hóa quân đội là một trong những nguyên tố đưa đến sự thất bại ngày nay.

VH: Nhìn về những tướng lãnh ngày trước, trung tướng nghĩ gì về Đại tướng Nguyễn Khánh?
TT Tôn Thất Đính: Ông Khánh được người Mỹ tín cẩn nhưng đã đi hơi quá. Ông ta không xứng đáng là quốc trưởng lãnh đạo quốc gia lúc đó.

VH: Về việc ra đi không trở lại Việt Nam của cố Trung tướng Nguyễn Chánh Thi vào giữa thập niên 60, Trung tướng nghĩ thế nào?
TT Tôn Thất Đính: Với tánh khí của tướng Thi, tôi nghĩ trước sau gì rồi cũng đến ngày ông phải ra đi như vậy thôi. Đối với tôi, Tướng Nguyễn Chánh Thi có tính cách võ biền nhiều hơn. Ngay cả cuộc đảo chánh năm 1963, trên thực tế ông không phải là người chủ trương mà là một người khác.

VH: Thưa ông, là một Thượng nghị sĩ của nền đệ nhị Cộng Hòa, ông có đánh giá nào về cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu?
TT Tôn Thất Đính: Về ông Thiệu, tôi có thể nói ông là một người mưu lược. Ông cũng là vị sĩ quan đồng khóa với tôi, khóa I sĩ quan Đập Đá Huế. Tôi nghĩ cho tới giây phút ông ra đi về cõi khác, ông vẫn chưa có câu trả lời về cái chết của những thường dân vô tội do quyết định của ông bỏ rơi Huế, Đà Nẵng cũng như cuộc tháo chạy từ cao nguyên. Lẽ dĩ nhiên chúng ta nhìn nhận ông là người thực sự chống Cộng nhưng bên cạnh đó, ông vẫn là người phải gánh trách nhiệm trước quốc dân đồng bào.

VH: Nếu tóm gọn đánh giá của ông vẫn trong vị thế là một thượng nghị sĩ của chế độ cho đến những ngày cuối cùng, ông có nghĩ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là vị Tổng thống xứng đáng của VNCH không?
TT Tôn Thất Đính: Trên cương vị một tướng lãnh, trước sau tôi nhìn nhận ông Thiệu có tinh thần chống cộng. Tuy nhiên, trên bình diện nguyên thủ quốc gia, là Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, cho phép tôi được được nói “Ông Thiệu không xứng đáng là Tổng thống VNCH.”

VH: Vẫn với tư cách một Thượng nghị sĩ VNCH, Trung tướng có nhận trách nhiệm đã ít nhiều đưa đến sự ra đi gần như trốn chạy khỏi Việt Nam của người Việt trong và sau biến cố 1975 không?
TT Tôn Thất Đính: Dù muốn dù không, xa hoặc gần, trực tiếp hay gián tiếp, các tướng lãnh và dân cử như tôi đều có trách nhiệm trong việc đổ vỡ gây nên cuộc trốn chạy này. Vị Tổng tư lệnh quân đội luôn luôn vẫn là người chịu trách nhiệm. Trong quá khứ, tôi đã từng là Tướng tổng trấn, Tư lệnh vùng I, II, III, dù tự hào về thành tích chỉ huy của mình nhưng vẫn không khỏi đau buồn và thấy như có phần nào trách nhiệm của người lưu vong hôm nay.

VH: Còn đối với cựu tổng thống Trần Văn Hương?
TT Tôn Thất Đính: Tổng Thống Hương là vị lãnh đạo yêu nước thật tình. Nhưng không may cho vận mạng nước ta, khiến ông đã không cân nhắc chín chắn khi bàn giao lại chức vụ tổng thống cho tướng Dương Văn Minh. Dù sao, giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, ông đã không đắn đo mà can đảm nhận nhiệm vụ lèo lái quốc dân. Lẽ dĩ nhiên, chuyện đời không ai biết điều gì tốt hoặc xấu sẽ xảy đến. Tuy nhiên, nhìn kỹ lại những gì đau đớn nhất đã xảy đến cho quân dân miền Nam sau cuộc đầu hàng ngày 30 tháng 4, thấy người chết quá nhiều, trên biển cả, trong rừng sâu. Những hình thái hành hạ độc ác tàn bạo nhất đã được Cộng sản áp đặt cho những quân nhân VNCH, ngay cả người dân vô tội cũng bị vạ lây. Vậy, việc đầu hàng có mang lại được gì khá hơn không? Khi đưa vấn đề bàn giao ra quốc hội, chúng tôi đã chống đối nhưng cuối cùng, nhóm đa số vẫn thắng thế. Pháp chế dân chủ là vậy.

VH: Việt Herald cám ơn Trung tướng đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn. Trước khi chấm dứt, câu hỏi cuối muốn được đặt ra với Trung tướng là về Đại Tướng Dương Văn Minh, người chỉ huy cuộc đảo chánh năm 63, trong đó có cả ông tham dự.
TT Tôn Thất Đính: Trước khi tướng Big Minh ra đi, tôi có ghé thăm ông. Theo nhận xét của tôi, bản thân tướng Minh không có lập trường rõ ràng mà chỉ nghe theo ý kiến người bên cạnh. Tướng lãnh cầm quân không cho phép đầu hàng. Nhưng dù sao ông cũng đã ra người thiên cổ, tôi không muốn nói nhiều.

VH: Nhưng theo trung tướng, lịch sử sẽ đánh giá thế nào nếu sự thật bị cố tình giấu giếm? Khi nhận lời tham dự kế hoạch đảo chánh năm 1963, ông có nghĩ Đại tướng Dương Văn Minh xứng đáng là người lãnh đạo cuộc chính biến lớn lao này không?
TT Tôn Thất Đính: Tôi xin lỗi một lần nữa để trả lời là “Không.”

Đoàn Trọng

Wikipedia viết về Tướng Tôn Thất Đính:

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015


HUYỀN THOẠI CHÚA PHỤC SINH

Đinh Công Cường


Càng đọc kinh thánh và tài liệu nghiên cứu về đạo Thiên Chúa càng cảm thấy không thể hiểu nổi với một người thường.

Vào tháng 4.1996, trường Đại Học Los Angeles long trọng tổ chức kỷ niệm Lễ Phục Sinh năm nay bằng một Hội Nghị Khoa Học với chủ đề "Chúa Jesus Tròn 2000 Tuổi". Theo sách World Facts and Dates thì Chúa Jesus sinh vào năm thứ tư trước Công Nguyên, vì vậy năm 1996 Chúa vừa tròn hai ngàn tuổi. Nhân loại không cần phải đợi tới năm 2000 mới làm lễ kỷ niệm ngày sinh nhật số một này.

Ngoài ra, Tòa Thánh cũng tổ chức một Hội Nghị Thượng Đỉnh bàn về Phục Sinh (The Surrection Summit) tại một chủng viện ở New York, qui tụ các giáo sư thần học, các học giả về ngành triết học , sử học, và khảo cổ để tất cả hãy cùng nhau "Suy nghĩ lại về sự phục sinh của Chúa Kitô".
Cuộc họp này kéo dài 4 ngày, từ 8 đến 11.4.1996, dưới sự chủ tọa của LM Gerald O ' Coollins, giáo sư thần học tại Đại Học Jesuits ' Gregorian ở Rome. Tất cả các tham dự viên đều là những giới chức trí thức cao cấp trong Giáo Hội Công Giáo, chỉ có một người duy nhất là Alan Ségal, theo đạo Do Thái, giáo sư đại học Bernard ở New York. Hội nghị xác định: Niềm tin vào sự Phục Sinh của Chúa Jesus-Kitô là căn bản của giáo lý Kitô. Đúng như sự khẳng định của Thánh Phaolô trong thư Ngài viết cho giáo dân ở Corinth: "Nếu Chúa Jesus không sống lại từ cõi chết thì đức tin của chúng ta đều trở thành vô ích". Quả vậy, niềm tin Kitô là niềm tin được sống lại sau khi chết. Nếu Chúa đã không sống lại thì Chúa không còn là đấng linh thiêng vượt trên tất cả mọi người. Nói cách khác, Chúa không còn là Chúa nữa. Thánh Phao lô còn nhấn mạnh thêm là sự Phục Sinh của Chúa là trung tâm tín lý vì nếu không có chuyện Phục Sinh thì đã không có Giáo Hội Ki Tô !

Câu chuyện kể việc Chúa chết 3 ngày sống lại đã là một chuyện đàm tiếu số một trong nhiều giới xã hội ngay từ buổi sơ khai của đạo Kitô. Người Do Thái ở Jerusalem cho đó là chuyện bịa đặt để tôn vinh một tên tội phạm chính trị lên thành một "Ông Con Trời" (Son of God). Giới trí thức Hy Lạp thời đó cũng tin xác loài người sau này sẽ sống lại, nhưng đó là sự sống lại tập thể của toàn nhân loại chứ không solo độc diễn như trường hợp của Chúa. Họ gọi sự sống lại của Chúa là chuyện nhảm nhí của bọn cố chấp.

Trải qua 2000 năm lịch sử, mọi người đều phải công nhận là câu chuyện Phục Sinh của Chúa Jesus quả có sức thu hút thật mãnh liệt. Triết gia Đức Ernt Block nhận định: "Chính cái Huyền Thoại Phục Sinh của Chúa, chứ không phải Bài Giảng Trên Núi (Sermons on the Mount) của Ngài, đã chinh phục đế quốc La Mã".

Ngày nay, cứ đến dịp lễ Phục Sinh, hơn một tỷ tín đồ Kitô Giáo khắp thế giới qui tụ thật đông đảo tại các thánh đường để tưởng niệm cái chết đau thương của Ngài vào Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday). Hôm sau, thứ bảy là cả một ngày các thánh đường đượm mùi tử khí của nhà mồ với lễ Hôn Chân Chúa (Holy Saturday). Sáng hôm sau, chủ nhật, bỗng nhiên cả đất trời bừng sáng hẳn lên với Tin Mừng Chúa đã chiến thắng sự chết để Sống Lại Hiển Vinh (Easter Sunday) !

Tất cả chỉ là những màn hoạt cảnh được diễn đi diễn lại tại các nước có đạo Kitô trong 2000 năm qua. Nhưng lạ một điều, sau khi Cộng Sản Nga và Đông Âu sụp đổ vào các năm 1989 - 91, đạo Kitô đã bị lâm vào một tình trạng bất ổn. Dường như đạo Kitô đã trở nên không còn cần thiết cho mục tiêu chiến lược Chống Cộng của quyền lực quốc tế nữa. Một phong trào xét lại toàn bộ giá trị của đạo Kitô đã được "bật đèn xanh" và đột nhiên bùng lên dữ dội trong các giới trí thức học giả trên toàn thế giới.
Chỉ trong 5 năm, từ 1990 đến 1995, có tới dăm chục cuốn sách và mấy trăm bài báo mổ xẻ đủ khía cạnh chung quanh đề tài Phục Sinh của Chúa. Các học giả khơi lại không khí bài bác Kitô của Phong Trào Khai Sáng (Enlightenment) thế kỷ 18 ở Âu Châu. Họ đào bới đủ thứ chứng cớ lấy ra từ những kho sách cổ, khoa học thực nghiệm hay khoa khảo cổ học để tấn công Chúa Jesus của sự thờ phượng (the Cultic Jesus).

Thực ra, cách đây 150 năm, triết gia Đức David Strauss đã nêu lên vấn đề này trong tác phẩm "The life of Jesus critically examined" với lập luận cho rằng: Các tín đồ đầu tiên của đạo Ki Tô đã cố tìm mọi cách để gán cho Jesus đủ thứ huyền thoại về một Đấng Cứu Thế mà mọi người mong đợi. Ngày nay chúng ta phải tìm cho ra một "Jesus thật" ẩn núp đàng sau "Jesus của những huyền thoại" đó.

Tới thế kỷ 20, người ta mới ra sức đi tìm "Jesus thật" (the Real Jesus) mà cựu linh mục tiến sĩ John Dominic Crossan gọi là "Jesus của lịch sử" (The Historical Jesus). Jesus thật hoặc Jesus của lịch sử hoàn toàn khác với Jesus của huyền thoại hiện đang được các tín đồ tôn thờ.
Đặc biệt trong mùa Phục Sinh năm 1996, cả ba tờ tuần báo lớn nhất nước Mỹ là Time, NewsweekU.S News and World Report đều đồng loạt ra ngày 8.4.96 với hình bìa in ảnh Chúa sống lại và những bài báo nẩy lửa tố cáo chuyện Phục Sinh của Chúa như một chuyện bịp lớn nhất trong lịch sử nhân loại.


     
Hầu hết các sách và các hội nghị khoa học về Chúa Kitô đều phủ nhận sự phục sinh của Ngài. Ngay những nhà truyền giáo của đạo Tin Lành cũng phải nhìn nhận sự phục sinh của Chúa đã trở thành một gánh nặng (a burden) cho tín lý đạo Kitô, vì nó đã là một trở ngại lớn nhất cho việc truyền giáo trong giới trí thức hiện nay.
Nhiều nhà truyền giáo cấp tiến đề nghị hủy bỏ tín điều Phục Sinh để dễ dàng nhận rõ cái vai trò đích thực của Chúa là một nhà cải cách xã hội (a social reformer) hơn là nhìn về Ngài qua lăng kính sai lầm của huyền thoại.

Theo kết quả điều tra của Viện Harris thì trong thời đại hiện nay, cái huyền thoại phục sinh của Chúa đã làm cho số tín đồ Kitô Giáo giảm sút mau lẹ. Chỉ riêng trong năm 1994, số tín đồ Kitô Giáo Hoa Kỳ đã giảm mất 13%. Theo cuộc điều tra của một tổ chức Công Giáo tại Glendale (California) vào tháng 3.1996, có tới 30% tín đồ Kitô Giáo Hoa Kỳ không còn tin chuyện sống lại của Chúa nữa.
Học giả Đức Gerd Luderman, chuyên gia khảo cứu Kinh Thánh, tuyên bố: "Phục Sinh là công thức rỗng tuếch cần phải được gạt bỏ bởi bất cứ ai có cái nhìn của thời đại khoa học ngày nay."
Trong cuốn What really happened to Jesus? (Westminter John Knox Press), Luderman viết: "Thân xác Jesus đã thối rữa trong mồ". Người đặc biệt nhất là giáo sư John Dominic Crossan, cựu linh mục Công Giáo, giáo sư lâu năm tại Đại Học De Paul Chicago, đã từng đoạt nhiều giải thưởng của Hàn Lâm Viện Mỹ về các công trình nghiên cứu lịch sử của đạo Kitô của ông. Trong tác phẩm Who killed Jesus (Harper Collins), giáo sư Crossan nhận định: "Ngôi mộ trống rỗng không phải là bằng chứng của sự Phục Sinh mà chỉ có nghĩa là xác Chúa không còn ở trong đó nữa, càng không có nghĩa là Chúa đã "bay lên trời", vì lúc đó xác Chúa đã bị chó hoang vào ăn mất tiêu rồi !". Theo luật La Mã, xác của các tử tội bị đóng đinh đều bị lính La Mã đem vứt cho thú hoang hoặc kên kên ăn thịt, không một thân nhân tử tội nào được phép đặc cách lãnh xác về chôn cả !.

Năm 1947, các nhà khảo cổ đã phát giác một kho sách cổ gồm trên một trăm cuốn viết trên da lừa, trên các thanh gỗ hoặc thanh đồng, được viết vào thế kỷ IV trước Công Nguyên đến thế kỷ I đầu Công Nguyên. Kho sách quí này được tìm thấy tại Qumran thuộc vùng sa mạc gần Biển Chết nên được mệnh danh là "The Dead Sea Scrolls". Sự khám phá này của ngành khảo cổ đã đem lại cho các học giả nghiên cứu tôn giáo cơ hội tìm hiểu nhiều bí mật của đạo Do Thái và đạo Kitô.



Nữ học giả Úc Barbara Thiering đã căn cứ vào các tài liệu trên để hoàn thành tác phẩm rất nổi tiếng "Jesus and the riddle of the Dead Sea Scrolls" (Harper Collins). Báo Newsweek ra ngày 8.4.96 cho biết cuốn sách này là cuốn sách bán chạy nhất thế giới trong năm. Theo sự nghiên cứu của tác giả thì Chúa Jesus không chết trên thập giá, Ngài chỉ "có vẻ như chết" mà thôi. Lúc đang bị treo trên thập giá, Jesus kêu khát nước. Một sĩ quan La Mã đã dùng cây giáo đưa miếng bọt bể (sponge) có thấm một thứ thuốc độc phản ứng chậm (a slow-acting poison) cho Jesus nhắp. Liều thuốc độc có phản ứng chậm này do một tín đồ của Jesus tên Simon Magus đã chế ra. Kinh Thánh gọi đó là "chén đắng" hoặc "dấm". Sau khi uống chất "dấm" hóa học này, Jesus có vẻ như chết nhưng thực sự chưa chết mà chỉ ở trong tình trạng hôn mê (coma). Viên sĩ quan trưởng toán hành hình là Longinus lấy chiếc giáo quệt nhẹ (không đâm) vào cạnh sườn Jesus tạo thành một vết trầy cốt để thử xem Jesus phản ứng ra sao. Sau khi thấy Jesus không giật mình cựa quậy gì cả, mọi người tưởng Jesus đã chết rồi. Longinus có lý do chính đáng để tha không đập gẫy hai xương ống chân của Jesus. Trong khi đó, hai người cùng bị đóng đinh một lượt với Jesus lúc đó còn sống đều bị lính La Mã đập gẫy ống xương chân. (Xin chú ý một điều đây là một biệt lệ chưa từng có và là một đặc ân khác thường mà trưởng toán hành hình Longinus cố ý dành riêng cho Jesus vì viên sĩ quan này là đệ tử bí mật của Ngài). Hai tử tội kia, sau khi bị đập gãy ống xương chân, sức nặng thân xác làm toàn thân họ bị chùng xuống vì không còn chân đỡ và sự quá đau đớn làm họ ngất xỉu, đầu họ rũ xuống ngực khiến cho cổ bị nghẹt không thở được, nạn nhân chết ngộp trong khoảnh khắc. Nếu lính La Mã đập gẫy hai ống xương chân của Jesus thì lịch sử nhân loại đã thay đổi và có thể thế giới đã trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn ngày nay bội phần vì ít nhất đã không bị Công Giáo La Mã (lừa dối) làm cho nền văn minh nhân loại bị lùi lại 15 thế kỷ!.

Chỉ vài giờ sau khi uống thuốc đắng độc chất hóa học, Jesus đã được đồ đệ tháo xác và đem đi cấp cứu. Vài ngày sau Ngài phục hồi sức khỏe và gặp người vợ yêu quí của Ngài là bà Magdelene. Bà Magdelene nguyên là một cô gái điếm nhưng rất mực yêu thương Jesus. Bà không được Kinh Thánh nhắc nhở nhiều vì sợ làm mất đi sự tôn nghiêm của "Thiên Chúa Hóa Thân" và vì thế bà không được Vatican phong thánh! Bà đã có 3 đứa con với Jesus nhưng sau đó Jesus đã bỏ bà để lấy cô gái Lydia trẻ đẹp. Nhiều học giả nghiên cứu Thánh Kinh không tin những chuyện nói trên nhưng họ cho rằng những chuyện trong Thánh Kinh kể về sự phục sinh của Chúa cũng chẳng có giá trị gì hơn.
Tuần báo U.S News and World Report số ra ngày 8.4.96 đã viết:

"Áp dụng phương sách phân tích văn bản và các qui luật xác định chứng liệu, 50 giáo sư chuyên khoa tôn giáo của hội nghị * đã kết luận cho rằng chưa tới 20% những lời nói và hành động của Jesus trong Thánh Kinh là đúng sự thật. Nhất là những lời cầu nguyện hoặc lời nói của Jesus trên thập giá và những điều ám chỉ Jesus là Thiên Chúa, là được sinh ra bởi bà mẹ đồng trinh, là đấng làm phép lạ, là đấng đã sống lại từ cái chết". (Applying some conventional methods of textual analysis and other disputed rules of evidence, the seminar made up of about 50 religion professors conclude that no more than 20 percent of the sayings and even fewer of the deeds attributed to Jesus are authentic. Among the castoffs: the Lord's prayers, the sayings on the cross and any claims of Jesus to divinity, the virgin birth, most of his miracles and his body resurrection)

Kinh Thánh không đưa ra được một nhân chứng nào về sự phục sinh của Chúa Kitô. Đến nỗi vị thánh nổi tiếng về thần học là Thánh Ignatius cũng còn phải than: "Chúa Jesus đã sống lại trong sự im lặng hững hờ của Thượng Đế !". Các cuốn Tân Ước viết về phục sinh, mỗi cuốn nói một kiểu và mâu thuẫn nhau. Matthew nói người Chúa gặp đầu tiên sau khi sống lại (hay tỉnh dậy?) là bà Magdelene tại vườn cây của Joseph Arimathea. Luke thì lại kể rằng người Chúa gặp đầu tiên là thủ lãnh các tông đồ, tức Phêrô, tại Jerusalem! Còn Mark thì xác định sau khi sống lại, Chúa chẳng gặp ai cả. Cả ba cuốn sách của chân lý tuyệt đối nói về ba chân lý khác nhau khiến cho chúng ta ngày nay phải bối rối và nghĩ rằng phải có một chân lý thứ tư: Các cuốn Thánh Kinh Tân Ước là những cuốn sách gồm những chuyện bịa đặt về Jesus nhằm Ki-tô-hóa nhân vật phàm tục này. Những chuyện bịa về phục sinh đã làm cho ngay chính môn đệ ruột của Jesus là Thomas cũng phải nghi ngờ.

Phúc âm của John (20: 24-27) kể rằng: Thomas là một trong 12 môn đệ của Chúa. Sau khi sống lại, Chúa đến thăm các môn đệ của Ngài thì Thomas bữa đó lại đi vắng. Lúc trở về nhà, Thomas nghe các tông đồ khác thuật chuyện Chúa đã sống lại rồi, Thomas không tin. Thomas nói: "Chỉ khi nào tôi thấy tận mắt các lỗ đinh trên tay chân ngài và được thọc tay vào lỗ giáo đâm trên cạnh sườn Ngài thì tôi mới tin". Tám ngày sau, Jesus trở lại căn nhà của các tông đồ, lúc đó mọi người đều đã qui tụ đông đủ để chờ đón Ngài. Cửa ra vào và các cửa sổ đều được đóng chặt, nhưng Chúa đã xuất hiện ở trong nhà như một hồn ma và đứng giữa đám họ. Chúa nói với Thomas: "Con hãy đặt tay lên lỗ đinh trên tay chân ta và hãy cho tay vào lỗ giáo đâm trên cạnh sườn ta. Con đừng nghi ngờ gì nữa. Phúc cho kẻ nào không thấy mà tin."

Vì quá tin vào Lời Chúa trong Phúc âm của John, hầu hết tín đồ Ki Tô Giáo thường ít thắc mắc về những điều vô lý trong tín điều Phục-sinh cũng như trong các tín điều khác, bởi vì không thấy mà vẫn cứ tin bừa thì mới có phúc thật. Câu nói: "Phúc cho kẻ nào không thấy mà tin" đã trở thành nền tảng trong hai ngàn năm qua cho một thứ Đức Tin Mù (The Blind Faith) - một thứ đức tin của loài người bán khai vì nó hoàn toàn không cần xử dụng tới cái dụng cụ quý giá nhất ở con người thông minh là lý trí.

Số báo đặc biệt nhân dịp lễ Phục Sinh năm 1996, với chủ đề in trên trang bìa "Rethinking the Resurrection – A New Debate About the Risen Christ" (Xét lại Hiện tượng Phục sinh - Một Tranh luận mới về Giêsu Phục sinh), tờ tuần báo nhiều độc giả nhất thế giới là Newsweek (ngày 8 tháng 4) đã kêu gọi các tín đồ Kitô Giáo hãy suy xét lại niềm tin tôn giáo của mình xem có phải là đức tin mù hay không.

Đinh Công Cường


Thứ Hai, 5 tháng 1, 2015



CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN VĂN MINH LÀ DÂN CHỦ

Cao Huy Thuần


"Thế nào là một dân tộc văn minh?", muốn trả lời câu hỏi ấy phải trả lời câu hỏi: "Thế nào là văn minh? Văn minh là gì?". Mỗi vấn đề định nghĩa này thôi, bao nhiêu là phức tạp. Có ai đồng ý với ai đâu? Mỗi tác giả lớn có một giải đáp riêng, lắm khi trái ngược từ căn bản.

Văn minh là gì: ba điểm mấu chốt

Điểm căn bản đầu tiên là sự dùng lẫn lộn giữa "văn minh" và "văn hóa" - "civilisation" và "culture" - mà "văn hóa" lại cũng gây bất đồng trong định nghĩa. Lịch sử của hai từ "văn minh" và "văn hóa" rất dài, rất xưa ở Âu châu. Lúc đầu, "văn minh" bao hàm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Rồi từ "văn hóa" xuất hiện, và nhiều tác giả có khuynh hướng phân biệt, trao phần tinh thần cho văn hóa, phần vật chất cho văn minh.

Văn minh là gì? Có người nói: "đó là đường sá, hải cảng, bờ sông". Nhưng người khác bác bỏ: "văn minh là phải có một tối thiểu khoa học, nghệ thuật, trật tự, đạo đức..." Nghĩa là tất cả những gì mà con người thu thập được như vốn liếng đã tạo ra. Vậy điểm đầu tiên phải ghi là biên giới giữa tinh thần và vật chất không rõ ràng: văn minh là tinh thần hay vật chất, hay lẫn lộn cả hai?
Điểm thứ hai là việc sử dụng từ "văn minh" cho cá nhân hay tập thể. Ta có thể nói: "một người văn minh"? Hay chỉ nên dùng từ ấy cho một xã hội, một nước, một vùng? Thông thường, ta vẫn nói: "Đừng nhổ nước miếng bừa bãi, hãy cư xử như một người văn minh". Ấy là nói về cá nhân. Và ta lại nói: "Văn minh Trung Hoa khác với văn minh Nhật Bản", "văn minh Tây phương không giống văn minh Đông phương". Ấy là nói về tập thể. Ngày nay, từ "văn minh" hay dùng cho tập thể. Chẳng hạn quyển sách danh tiếng một thời và hứng chịu chỉ trích cũng lắm của Samuel Huntington mang nhan đề là "Va chạm giữa các nền văn minh". Câu hỏi đặt ra - một "dân tộc văn minh" - nằm trong nghĩa tập thể này.

Thế nhưng nó lại gợi ra một vấn đề lý thuyết sôi nổi, và đây là điểm phải ghi thứ ba: Nói rằng một "dân tộc văn minh", thế chẳng phải hàm ý rằng có những dân tộc không văn minh sao? Vậy thì thế nào là một dân tộc không văn minh? Lấy tiêu chuẩn gì chính xác để phân biệt? Nói như thế cũng hàm ý rằng có nấc thang giá trị để phê phán: dân tộc này văn minh cao hơn dân tộc kia. Thế nào là cao, thế nào là thấp, dựa trên tiêu chuẩn gì? Đây không phải chỉ là một vấn đề lý thuyết. Đây là một nhục nhã mà dân tộc ta phải nuốt trong suốt trăm năm thuộc địa. Thực dân xâm chiếm nước ta dưới danh nghĩa mang lại ánh sáng văn minh cho dân tộc ta, mù lòa trong đêm tối. Ta là bán khai? Âu châu thời Trung cổ là văn minh? Văn minh gì mà Thập tự quân giết người như ngóe chỉ vì khác tôn giáo? Nước Bồ Đào Nha gởi hải thuyền qua Nam Mỹ để "nghiên cứu" xem dân "da đỏ" có linh hồn không, ấy là văn minh? Dân "da đỏ" dìm xác của người da trắng vào nước để xem da ấy có sình thối không, ấy là bán khai? Hai thái độ có khác gì nhau? Việt Nam ta man di mọi rợ thật chăng khi ông Trung Hoa tự cho mình là tinh túy ở trung tâm?

Câu trả lời từ ba vị thầy

Ít nhất ba điểm nói trên làm tôi lúng túng để trả lời. Tôi đành phải hỏi ý ba tác giả được xem là bậc thầy, không phải chỉ ở Pháp mà cả trên quốc tế. Trước hết là nhà sử học Jacques Le Goff. Về thắc mắc thứ nhất, tinh thần hay vật chất, ông trả lời: "Cái đẹp, công lý, trật tự...". Nghĩa là những yếu tố tinh thần. Xin trích nguyên văn: "Văn minh dựa trên sự tìm tòi và thể hiện của một giá trị cao hơn, trái với văn hóa được xem như là toàn thể những tập tục và những thái độ. Văn hóa nói chuyện dưới đất, văn minh siêu việt trên cao. Cái đẹp, công lý, trật tự....Các nền văn minh được xây dựng trên những yếu tố đó. Ví dụ việc sử dụng đất: văn hóa sản xuất ra lợi ích, gạo, trong khi văn minh sản sinh ra cái đẹp bằng cách tạo vườn".

Ông nói: vườn Nhật khác với vườn Tàu, và cái khác ấy chịu ảnh hưởng của tôn giáo và tâm linh. Vườn Anh cũng khác với vườn Pháp. Một bên tôn trọng vẽ thiên nhiên, dễ gợi lên tình cảm lãng mạn, mơ mộng; một bên bài trí có hệ thống, ngay hàng thẳng lối, biểu lộ tinh thần duy lý của con cháu Descartes. "Văn hóa đặt ưu tiên cho ý nghĩ về thực dụng, về an ninh, về giàu có, khác với văn minh đặt giá trị trên tâm linh và thẩm mỹ" (Le Monde 23-1-2014).

Đặt văn minh trên tiêu chuẩn tinh thần như vậy, không thể nói văn minh nào cao hơn văn minh nào. Ai dám nói vườn Anh đẹp hơn vườn Pháp, vườn Tàu cao cấp hơn vườn Nhật? Thế nhưng phần đông định nghĩa ngày nay không đặt văn minh ở trên cao, văn hóa ở dưới thấp như vậy. Văn minh, theo phần đông, liên quan đến những yếu tố vật chất hơn là tinh thần, tuy rằng không phải gạt bỏ hoàn toàn yếu tố tinh thần. Chỉ định nghĩa như vậy mới bảo vệ được quan điểm cho rằng có văn minh cao, văn minh thấp. Bởi vì, nếu dựa trên những yếu tố vật chất (kỹ thuật, khoa học, kinh tế...) thì mới đưa ra được ý niệm Tiến Bộ, mà đã nói Tiến Bộ thì quả thực có xã hội này chậm tiến bộ hơn xã hội kia. Từ hồi thế kỷ 18, các tác giả đã nói đến sức năng động của các xã hội Âu châu trên lĩnh vực kinh tế, triết lý, khoa học, so với tình trạng trì trệ của các xã hội Á châu và Trung Đông. Montesquieu khẳng định: tư tưởng ở Âu châu biến chuyển, trong khi Á châu cứ nhai đi nhai lại quá khứ. Trên đường tiến bộ, Cách mạng Pháp hạ bệ một giai cấp gắn liền với quá khứ, đưa một giai cấp khác lên, năng động hơn. Sau đó đến phiên cách mạng kỹ nghệ làm đảo lộn xã hội lần nữa, mang lại thịnh vượng hơn. Văn minh, mà cơ sở nòng cốt là vật chất, làm biến đổi thượng tầng, hoạt động xã hội phát triển lên, con người mở mang hơn, tự do hơn, nhân loại tiến bộ hơn.

Nhận định nghĩa văn minh như vậy, dựa trên tiến bộ kỹ thuật, khó mà không thấy địa vị ưu thắng của Âu châu ngày trước và cả Tây phương bây giờ. Tôi là dân thuộc địa cũ, ấm ức cái nhục ngày xưa, cho nên tìm đến một ông thầy khác nhận định về tiến bộ của cả nhân loại, không riêng gì của Âu châu trong một khoảng thời gian nhất định, nghĩa là từ thế kỷ 17, 18. Nhìn tổng thể cả nhân loại như vậy thì tiến bộ là gì? Tôi tìm đến ông thầy thứ hai, Claude Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này phân biệt hai loại xã hội: "xã hội lạnh" và "xã hội nóng". "Xã hội lạnh" hoạt động như đồng hồ, "xã hội nóng" hoạt động như động cơ hơi nước. Các "xã hội lạnh" (xã hội tiền sử chẳng hạn) có văn hóa nhưng không có lịch sử vì chỉ lặp đi lặp lại y hệt, từ thế hệ này qua thế hệ khác, tránh mọi thay đổi về kỹ thuật, cách sống, thân tộc hay cách tổ chức quyền lực. Các "xã hội lạnh" có khuynh hướng sẽ biến mất, bị nuốt, bị phá hủy bởi các "xã hội nóng". Ngày nay, ai cũng biết "xã hội nóng" là các xã hội nào. Ai cũng biết xã hội nào năng động, sáng tạo trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, mỹ thuật, giáo dục, tổ chức xã hội... Và ai chắc cũng lo, không biết xã hội ta có đang nguội dần không? Hôm nay cái đồng hồ đều đặn gõ 12 tiếng, ngày mai cũng đều đặn leng keng 12 tiếng y hệt, và ngày kỉa, ngày kia, ngày kìa cũng vẫn 12 tiếng ấy, biết rồi khổ lắm nói mãi.

Làm tổng hợp trên các điều vừa nói - vật chất và tinh thần, cá nhân và tập thể, tiến bộ và trì trệ - tôi đi đến kết luận của một ông thầy thứ ba, nhà xã hội học Edgar Morin: "Văn hóa là toàn thể những niềm tin, những giá trị đặc thù của một tập thể riêng biệt. Văn minh là những gì có thể thuyên chuyển từ tập thể này qua tập thể khác: kỹ thuật, kiến thức, khoa học…Chẳng hạn văn minh Tây phương mà ngày nay đã lan ra toàn cầu hóa, là một văn minh được định nghĩa là toàn thể những phát triển về khoa học, về kỹ thuật, về kinh tế".
Nhưng ông nói thêm một điều quan trọng: "Và chính văn minh Tây phương ấy ngày nay đang mang đến nhiều hậu quả tiêu cực hơn là tích cực. Đây là điều cần phải cải tổ, nghĩa là cần phải có một chính sách văn minh" (Le Monde 3-1-2008).
   

Nhà sử học Jacques LeGoff, nhà nhân chủng học Claude Lévi-Strauss
và nhà xã hội học Edgar Morin

Văn minh và văn hoá

Đoạn sau trùng ý với Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này mượn từ "entropie" trong nhiệt động học để nói rằng văn minh có khuynh hướng tiến đến tình trạng xáo trộn của hệ thống: gia tốc dân số, tranh chấp xã hội, cạnh tranh kinh tế, đụng độ vũ trang, chạy đua khí giới, chiến tranh, vắt kiệt tài nguyên, phá hủy thiên nhiên, tiêu thụ phung phí... Làm sao chữa lại những hậu quả "tiêu cực" ấy? Lévi-Strauss cậy đến văn hóa, và văn hóa theo ông là tâm linh, đạo đức, triết lý, nghệ thuật và chính trị. Chính trị theo nghĩa nguyên thủy của Hy Lạp ngày xưa: là cách tổ chức nhà nước thế nào để đạt được phúc lợi chung. Ta thấy đó, ta trở lại với những gì ta nói từ đầu: sự lẫn lộn giữa văn hóa và văn minh.

Vậy thì tôi cũng đành lẫn lộn thôi. Suy nghĩ như một người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, tôi trả lời rằng một dân tộc văn minh là một dân tộc có văn hóa cao, nghĩa là năng động, nghĩa là không trì trệ, trên mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, đầu óc cá nhân cũng như tổ chức xã hội, quyền lực, tiến bộ cùng với xu hướng của thế giới, nhưng không quên rằng mỗi người đều là con cháu thừa tự.

Tôi xin cắt nghĩa mấy chữ sau cùng. Mỗi sáng tạo, hủy diệt, hay mỗi biến chuyển của một nền văn minh đòi hỏi phải có thời gian. Vì vậy, trong lịch sử các văn minh, cũng như trong nếp suy nghĩ về văn minh, ý nghĩa thừa tự là căn bản. Một nền văn minh được xây dựng lần hồi, làn sóng này tiếp theo làn sóng khác, về giá trị, về tập tục, về niềm tin. Phải có thời gian để biến chuyển và để củng cố. Để thâu nhận từ bên ngoài và để bảo tồn tận bên trong. Hiện nay, cách mạng tin học và tình trạng toàn cầu hóa có khuynh hướng đồng hóa hết thảy mọi nền văn minh. Nếu chạy theo "văn minh kỹ nghệ", tiến bộ vật chất một cách mù quáng, không chừng ta thắp một cây hương cho tổ tiên nào không phải là của ta.

Con đường duy nhất: dân chủ

Riêng về mối tương quan giữa tập thể và cá nhân, phải nhấn mạnh rằng một tập thể không thể văn minh nếu con người trong đó không văn minh. Giáo dục, chính là để đào tạo nên những con người văn minh. Và thế nào là con người văn minh? Là biết yêu Chân, Thiện, Mỹ. Yêu Sự Thật, yêu Cái Tốt, Cái Đẹp. Chỉ nói Sự Thật mà thôi. Thế nào là yêu Sự Thật? Là ghét Giả Dối, Nói Láo. Giáo dục là không dạy con trẻ đưa Nói Láo lên thành hệ thống cai trị.

Nhưng muốn có một nền giáo dục như vậy, tất nhiên phải đặt chính trị lên hàng đầu. Bởi vì chính trị chỉ huy giáo dục. Xưa nay nhà trường chỉ có hai loại: nhà trường dạy phán đoán và nhà trường không dạy phán đoán. Loại nhà trường sau là để minh họa.

Cho nên, cuối cùng, con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không có cách nào khác dân chủ. Bắt đầu bằng thực tâm muốn thực hiện dân chủ. Rồi có thể không vội. Dân chủ hóa lần hồi. Nhưng làm đừng khác nói. Và người dân cứ lấy sáng kiến mà làm. Bước tới chứ đừng bước lui. Và thấy rằng xu hướng dân chủ là không tránh được, không trước thì sau thôi, bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát mọi chướng ngại.

Cao Huy Thuần

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015


VIẾT NHÂN NGÀY GIỖ NHẤT LINH NĂM NAY (7-7-2012)

 

Phạm Phú Minh

LTS – Trong bài viết dưới đây của tác giả Phạm Phú Minh, ông có nhắc đến một nhân vật mà ông gọi là “người chấp bút” hay “tác giả ‘chuyên đề về Nhất Linh bị bệnh tâm thần’”. Người đó chính là ông Nguyễn Văn Lục, một trí thức Công giáo mà nhiều tác phẩm và bài viết hầu như chỉ nhằm “rửa mặt” cho ông/chế độ Ngô Đình Diệm. “Rửa mặt” bằng bất cứ giá nào kể cả xuyên tạc, ngụy tạo và dối trá các chứng liệu lịch sử.

Ông Phạm Phú Minh và ông Nguyễn Văn Lục (Ảnh Internet)


Từ ít nhất bốn năm năm trở lại đây, “vấn đề Nhất Linh” cứ được hâm nóng bởi một số cây bút. Đúng ra chỉ có một người “chấp bút” viết về nhân vật này với một chủ đề nhất định, là Nhất Linh chết vì bệnh tâm thần, cùng lúc bác bỏ tất cả những chứng cứ lịch sử rất rõ rệt cho biết Nhất Linh chết vì những lý do khác. Có một điều rất ngộ nghĩnh, là khi “người chấp bút” ra một bài thì lại có người viết bài phản biện, người đó đọc rất kỹ các phản biện ấy để sửa đổi bài của mình cho hoàn chỉnh hơn, và đến một lúc nghĩ rằng bài của mình đã rất hoàn chỉnh rồi, không thể cãi đằng nào được nữa thì in thành sách. Nhưng khi sách phát hành thì đến phiên người con út của chính Nhất Linh là ông Nguyễn Tường Thiết vào cuộc, viết một bài dài bẻ gãy từng điểm không trung thực về thân phụ của mình, để đính chính trước dư luận về những điều mà ông cho rằng cố tình bóp méo những sự thật nay đã trở thành lịch sử (được đăng lại trong số này). Hầu như ngay lập tức sau khi bài này được phổ biến trên một tờ báo lớn tại Nam California vào đầu năm 2012, tác giả “chuyên đề về Nhất Linh bị bệnh tâm thần” phổ biến bản tóm lược một luận án y khoa của trường Y Sài Gòn đề cập đến bệnh hoạn của một số nhà văn Việt Nam trong đó có Nhất Linh, rồi tiếp theo là một bài chỉ trích tờ Phong HóaNgày Nay xuất bản từ thập niên 1930 của thế kỷ trước. Chưa hết, tác giả này còn viết bài đánh giá một cách tệ hại những đảng phái quốc gia đã từng chống đối chế độ Ngô Đình Diệm, mặc dù những đảng phái này có một bề dày lịch sử lớn hơn chế độ cụ Ngô nhiều, đã hy sinh nhiều xương máu chống thực dân Pháp lẫn cộng sản ngay trên quê hương Việt Nam. Một thái độ rất là “ăn thua đủ”, có vẻ được hướng dẫn bởi một niềm tin sắt đá, rằng mình có sứ mệnh thiêng liêng và cao cả phải “hạ” Nhất Linh và những ai chống đối chính quyền Đệ nhất Cộng hòa với bất cứ giá nào.

Nhìn toàn cảnh những sự việc đã xảy ra trong vụ này, tôi cảm thấy rất buồn. Với tinh thần phe phái, rồi ra những giá trị đích thực của Việt Nam sẽ bị bôi bẩn hết. Bắt đầu là những người cộng sản Việt Nam từ năm 1945, khi họ theo đường lối đệ tam quốc tế ra tay tiêu diệt và nói xấu một cách triệt để những nhân vật yêu nước không đi theo đường lối của họ. Họ đã giết Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu…, và gán cho những “tội danh” Việt gian, bán nước, phản động không những cho người đã chết mà còn vô số người còn sống. Họ phủ nhận tất cả thành tựu của nhà Nguyễn, từ các chúa Nguyễn đến triều đại nhà Nguyễn, với một thái độ kỳ thị hẹp hòi rất rõ rệt. Cộng sản là những người cuồng tín, chỉ biết lý thuyết và niềm tin của họ là đúng, ai không theo họ là lập tức mang tội phản động. Họ đã làm đổ nhào cả một nền nếp văn hóa cổ xưa của Việt Nam, đã chà đạp vô số giá trị mà phải hàng ngàn năm một dân tộc mới thủ đắc được, vì tin chắc chỉ có văn hóa mác xít của tầng lớp vô sản mới có giá trị để xây dựng nên một xã hội tốt đẹp. Sự ngây thơ dại dột muốn xây dựng xã hội mới bằng nòng súng và bạo lực đã mang lại thất bại cho cộng sản quốc tế, và khi “bừng con mắt dậy thấy mình tay không”, cộng sản Việt Nam đã vội vàng phục hồi những giá trị cũ: in lại sách của Phạm Quỳnh, thừa nhận công lao của nhóm Tự Lực Văn Đoàn về báo chí và văn chương, tái bản hầu hết các sách vở thời Pháp thuộc và cả một số tác phẩm của Miền Nam trước đây mà họ đã lên án nặng nề, phần nào tôn trọng trở lại các tôn giáo và các tín ngưỡng dân gian mà một thời họ cho là mê tín, lạc hậu… Vì, sau những ảo tưởng về một xã hội mới theo kiểu mác-xít, nếu không có những vốn liếng ấy, Việt Nam còn cái gì?

Dù đã biết phần nào quay đầu về với dân tộc, hậu quả những phá phách của cộng sản vẫn còn nặng nề trên đời sống của xã hội Việt Nam, nhất là khi chế độ ấy với bản chất độc tài vẫn còn khống chế đất nước. Những lời chửi rủa, bôi nhọ của họ đối với những nhân vật khả kính của Việt Nam dù ngày nay không mấy khi còn được nói ra một cách chính thức và công khai nữa, nhưng vết hằn của nó trong một thời kỳ tuyệt đối toàn trị đã tạo những mảng đen khó phai mờ trong tâm trí một số thế hệ.

Nhưng cộng sản là cả một hệ thống cách mạng quốc tế, có lý thuyết, có tổ chức chặt chẽ nên những người cuồng tín theo nó đã tàn phá quê hương thì đã đành. Đàng này, một người có học, trong hàng ngũ quốc gia, mà cũng học đòi làm những việc tương tự như cộng sản chỉ vì muốn bênh vực một nhân vật chính trị mà mình sùng bái thì phải nói là không sáng suốt. Vì sao? Vì bênh vực người mình tôn thờ là một việc, mà ra sức bôi đen những cá nhân, đoàn thể chống đối người ấy, bất kể giá trị của các cá nhân, đoàn thể ấy đối với đất nước ra sao, thì thật là một hành động rất vô ý thức. Tác giả ấy quên một điều: muốn làm sáng danh người mà mình bênh vực thì cách tốt hơn hết là làm sáng tỏ tài năng, đức độ của người đó, chứ không phải cố sức đả kích, bôi nhọ, bới lông tìm vết để hòng làm cho kỳ được công việc triệt hạ những cá nhân, đoàn thể chống đối ông Ngô Đình Diệm. Giá trị của cụ Ngô có được sáng rỡ thêm vì hành động đó không?


Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Di chúc “Đời tôi để lịch sử xử …” ngày 7-7-1963

Cố chứng minh nhà văn Nhất Linh tự tử vì bệnh tâm thần chứ không phải vì chống đối ông Diệm như những bằng cớ rành rành trên giấy trắng mực đen trong di chúc và các biến cố chính trị xã hội thời đó, thì được cái gì? Được cái này: thuyết phục dư luận nửa thế kỷ sau cái chết của ông Diệm rằng ông nhà văn nổi tiếng ấy không phải vì chống đối ông Diệm mà tìm cái chết, mà chỉ vì… điên! Ai tin được ông tác giả ấy thì cứ tin, nhưng riêng tôi, tôi thấy thê thảm quá. Thảm không chỉ cho chính ông ấy, mà thảm cho cả những giá trị mà ông ta muốn bảo vệ. Tôi không tin một người đức độ như ông Ngô Đình Diệm lại bằng lòng với một cách xuyên tạc lịch sử trắng trợn như vậy của những người tự nhận bênh vực cho ông. Những nhân vật lớn trên sân khấu chính trị chắc chắn hiểu nhau hơn là những bình luận vụn vặt về sau theo kiểu này. Vì bôi bẩn, xuyên tạc những giá trị thật sự của lịch sử Việt Nam thì sự thiệt hại chỉ có thể là cho chính Việt Nam thôi. Lo nâng một bức tượng lên cho cao mà chân lại dẫm lên bao nhiều đồ đạc quý giá trong nhà, người có trí (khôn) không ai làm như vậy!

Người thật sự có lòng với lịch sử đều có một lối nhìn xác thực nhưng bao dung với những gì đã xảy ra trong quá khứ. Và hiểu cái lẽ tương đối trong một thực trạng xã hội và chính trị. Nhìn một nhân vật hay một chế độ bằng cách không xem xét thực tế xã hội thời đại đó, mà chỉ trừu tượng hóa, về nhân vật thì chỉ còn một hình tượng xa xa đầy lý tưởng, về chế độ thì chỉ với một mớ lý thuyết trên giấy tờ, rồi cho đó là hoàn thiện, hoàn mỹ thì e rằng khó mà chính xác được. Đưa một cái gì của trần gian này đến mức toàn hảo không thể phê phán đều là thái độ cuồng tín. Và cuồng tín thì không có chỗ cho luận giải một cách khoa học hay thông cảm được, vì đã theo nguyên tắc “không theo ta là kẻ thù của ta”. Trong bảy mươi năm tồn tại của chế độ cộng sản, họ đã dứt khoát hành động theo một câu ngắn gọn: bạo lực cách mạng. Trong xã hội ấy không có đối thoại về chính trị, người dân hoặc cúi đầu nghe theo lãnh tụ, hoặc bị tiêu diệt. Khi người cộng sản nói sử dụng bạo lực cách mạng cho một đối tượng nào đó thì có nghĩa kẻ đó sẽ bị giết hoặc tù đày cho đến chết.

Nhà văn Mai Thảo có thuật lại cho bạn bè nghe câu chuyện do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn kể:  Ông Nguyễn Tường Tam thời kỳ ở trong chính phủ liên hiệp năm 1946, một hôm vào phủ chủ tịch để phản đối với ông Hồ Chí Minh về việc một số đảng viên Quốc Dân Đảng bị cán bộ phe cộng sản làm khó dễ. Ông Hồ hứa với ông Tam sẽ chỉ thị trả tự do cho họ và không để những việc như thế xảy ra nữa. Ông Tam đi về, nhưng ra tới sân mới nhớ quên một món đồ (có thể là cây dù) để ngoài cửa phòng ông Hồ, bèn quay lại lấy, bỗng ông Tam nghe tiếng ông Hồ trong phòng dội ra: Sao không thủ tiêu chúng nó ngay đi, để làm gì gây lắm chuyện?!
Bạo lực cách mạng là thế. Thời điểm 1945, 46, 47 tại miền Bắc và miền Trung vô số quan lại cũ, đảng viên Quốc Dân Đảng đã bị giết, tại miền Nam hầu như tất cả phe đệ tứ bị thủ tiêu. Chưa hết: đến cải cách ruộng đất, hàng trăm ngàn địa chủ bị công khai bị hành quyết nơi đấu trường. Cộng sản là thế: hoạch định chính sách xong là cứ thẳng tay áp dụng bạo lực cách mạng.
Nhưng nợ máu một khi đã gây ra sẽ không bao giờ mất, nó sẽ là nhân cho một cái quả khủng khiếp trong tương lai. Chẳng có mục đích nào có thể biện minh cho phương tiện là sự tàn sát đồng loại. Nhất là khi nhìn lại, tất cả “mục đích” của chủ nghĩa cộng sản toàn là thứ dỏm, những khẩu hiệu tranh đấu cho người nghèo, xây dựng thế giới mới rốt cuộc được tóm gọn trong một câu của bài Quốc Tế Ca: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình!” Đó là câu tiên đoán tài tình nhất, tất cả ước mơ cao cả của các tay tổ cộng sản đều trật lất, trừ câu này. Và thảm họa cho những đất nước tuy là hậu cộng sản nhưng vẫn do đảng cộng sản cầm quyền chính là đây.

Quay lại trường hợp Nhất Linh và các đảng phái quốc gia đang bị một cây bút có ý đồ dùng “bạo lực chữ nghĩa” để vùi dập, tuy có vẻ chỉ là một động thái có tính cách cá nhân chứ không phải là chủ trương rõ rệt của một thế lực nào, chúng tôi mong cá nhân ấy nên nhìn lại và chọn một thái độ khác khi viết về lịch sử.
 Nhiều nhà nghiên cứu đang thẩm định một cách khoa học và đứng đắn các ưu điểm của Đệ nhất Cộng hòa, đặc biệt các điểm đáng kính trọng ông Ngô Đình Diệm, các công trình đó đều đáng được trân trọng và chào đón. Nhưng nếu cố tình tìm mọi cách, kể cả dối trá và bóp méo sự thật, nhằm vùi xuống bùn đen những giá trị đã được xác định của quá khứ, thì thật sự là không nên. Dân tộc và đất nước Việt Nam trong suốt một thế kỷ qua đã là nạn nhân quá nặng nề của xâu xé tương tàn rồi, nay là lúc nên làm lành những vết thương, thay vì xé ra cho lớn hơn.

Phạm Phú Minh


BÀI LIÊN QUAN:
Sự thật về cái chết của Nhất Linh (Kỳ 1):
Sự thật về cái chết của Nhất Linh (Kỳ 2):
Sự thật về cái chết của Nhất Linh (Kỳ 3):