Hiển thị các bài đăng có nhãn thực dân pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thực dân pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013


THỰC DÂN BIẾN TƯỚNG – RƯỢU CŨ BÌNH MỚI

Thiên Lôi

 
I. Bối Cảnh

Gần đây, có những bản tin từ Bắc Phi ít gây sự chú ý của người đọc chỉ vì bề nổi xem ra không dính líu gì tới Mỹ; nhưng Thiên Lôi tui thì thường xách tầm sét ‘laptop’ đi mây về gió mà quán xét tin tức dưới trần rồi nối kết mọi chuyện tưởng không ăn nhầm gì với nhau để lý giải xuyên suốt mọi chuyện theo nguyên lý “… Do cái này sinh, cái kia sinh; do cái này diệt, cái kia diệt”, chứ Thượng Đế, lúc này thì ổng già cúp bình thiết, không còn hơi sức đâu để thiết kế sắp đặt mọi chuyện nổi nữa, dù dưới trần người ta cứ bảo ổng toàn trí toàn năng.

Thời buổi này, Chú Sam trùm thiên hạ. Chuyện nhỏ chuyện lớn gì trên thế giới mà không có cái bóng to đùng của chú lảng vảng phía sau. Mủi chú rất thính, mắt chú như cú, bàn tay chú thì đầy lông lá thô nhám sờ mó lung tung, tựa như câu viết trong Cựu Ước “Chú có thể nhìn thấy con kiến đen dưới hòn đá đen trong đêm tối đen của một… tháng Tư Đen thui!” Nhiều nơi chú giả vờ ‘vô tư’ nhưng chú đã giao việc cho đàn em cả rồi để tiếp tục quán xuyến cái gia sản tài nguyên thế giới cho chú tựa như những đế quốc thực dân châu Âu cũ.

Thế giới ngày nay vẫn còn in hằn vết sẹo xấu xí cũ thời thực dân khó mà tân trang cho được với phẩu thuật thẩm mỹ mới. Kể từ thế kỷ 15, vì tham lam nguồn tài nguyên nên sau chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Kha Khủng Bố (Christopher Columbus), cộng với sự tiếp tay thô bạo của Vatican thì đất đai thế giới bị bọn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức rồi Anh xâm chiếm làm thuộc địa một cách thoải mái để triệt để khai thác mà ảnh hưởng đến nay vẫn tồn tại.

Sự chia chác không đều đã đưa đến các cuộc chiến tranh loại trừ lẫn nhau giữa bọn thực dân, rốt lại chỉ còn đế quốc Anh làm bá chủ. Nhưng bọn tư bản Jews đã biết đánh mùi thời vận, khôn khéo đoàn kết và lòn lách với túi bạc kè kè vào trong hệ thống chính trị của Anh Mỹ để rồi ẩn mình lãnh đạo trong bóng tối với đồng đô-la in God we trust!.
 

 
Xưa cha ông ta hay nói ‘Vai mang túi bạc kè kè. Nói bậy nói bạ chúng nghe ào ào’ và dưới thời XHCN thì chi tiết hơn:  "Tiền là Tiên là Phật, là sức bật lò xo, là thước đo lòng người, là nụ cười tuổi trẻ, là sức khỏe người già, là cái đà danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân công lý. Ôi! đồng tiền hết ý." Vậy mà vừa mang đại đao vừa đeo Đô-la không làm cha thiên hạ sao được.

Dần dần theo sự lèo lái của bọn tư bản quốc tế, Hoa Kỳ được tôn làm minh chủ với đầy đủ đầu tư về khoa học kỷ thuật, khí tài, tài nguyên dồi dào và kinh tế dư thừa. Sau đệ nhị thế chiến, Chú Sam vinh quang lên ngôi thiên tử dưới sự phục tòng răm rắp của bọn thực dân cũ.

Ban đầu chú cũng muốn làm một hiệp sĩ mã thượng thế thiên hành đạo theo lý tưởng ‘bài phong đả thực’, ‘giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha’ mà cứu giúp dân nghèo cô thế. Cả thế giới đều vổ tay ca tụng ngóng trông; nhưng một khi say men chiến thắng và sự rỉ tai ‘tham vấn’ của bọn tư bản, chú dần quên bố cái lý tưởng thời lập quốc mà trôi lăn vào con đường thực dân cũ rồi biến tấu và biến tướng nó thành mô hình thực dân mới lắm khi còn nhiều phù phép và thô bạo hơn.

Có những vùng chú phải chường mặt ra hàng đầu là nhà thống lĩnh ‘thế giới tự do’ đứng mũi chịu sào như  Iraq, Afghanistan, Pakistan ..., nhưng có những vùng làm ăn vốn thuộc quyền của đàn em là những tên giang hồ đâm thuê chém mướn, đế quốc thực dân châu Âu cũ có số má thì chú giao việc cho mà chia chác. Nhưng khi chú cần tay dao búa thì đàn em NATO phải chung chi ngay dưới danh nghĩa ‘bảo vệ thế giới tự do... ăn cướp’.

Tổ chức NATO là một tập hợp của bọn bạch quỉ cũ để đi ăn hiếp đám dân da màu. Nó vốn được lập ra vào ngày 4 tháng Tư, năm 1949 với mục đích ‘đuổi Nga, rước Mỹ và đè Đức’ ("to keep the Russians out, the Americans in, and the Germans down" theo lời tuyên bố của Lord Ismay, tổng thư ký đầu tiên của NATO). Nhưng ở thời cao điểm của chiến tranh lạnh, nó được dùng đê đối phó với Warsaw Pact của Đông Âu vào năm 1955; rồi sau khi Sô-Viết sụp đổ vào năm 1991 thì nó lại thu thập đàn em xưa của Khối Warsaw để... bao vây lại đàn anh Nga. Thế là từ đó NATO được giao thêm nhiều nhiệm vụ khác với mục tiêu ban đầu. Lính ‘Tây lê dương’ lại phải oanh liệt hy sinh ở các chiến trường ngoài châu Âu một khi Chú Sam ra lệnh như vùng Balkan, Georgia, Iraq, Afghanistan…

Nhưng thôi, chú Sam làm gì với thế giới thì kệ chú. Riêng Thiên Lôi tui thì chỉ quan tâm đến chuyện gì liên quan đến dân tình Việt Nam xưa và nay mà thôi.

II. Đó là Chuyện có Dính líu đến Thực dân Pháp

Bản tin của phóng viên Tây Phi Thomas Fessy trên BBC News, ngày 24 tháng 4 năm 2013, dưới tiêu đề ‘Pháp đang bị tấn công ở châu Phi?’ sau khi đại sứ quán Pháp ở Tripoli thủ đô của Libya bị đặt bom làm hai lính Pháp và một số người dân bị thương. Fessy nghĩ nguyên nhân là vì Pháp đứng ở hàng đầu trong các hoạt động của NATO đã giúp quân nổi dậy lật đổ nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi vào năm 2011.

Cuộc tấn công của chiến binh Hồi giáo ở phía đông thành phố Benghazi, nơi cuộc nổi dậy chống Gaddafi, cũng đang gia tăng. Phương Tây còn cho là họ đã gây ra cuộc tấn công vào lãnh sự quán Mỹ ở Benghazi hồi tháng Chín khiến đại sứ Christopher Stevens và ba người khác tử thương.

Chưa có ai nhận trách nhiệm về vụ tấn công đại sứ quán Pháp ở Tripoli; tuy nhiên, có suy đoán rằng nó có thể là sự trả đũa của các nhóm Hồi giáo và các thành viên của Bắc Phi chi nhánh của al-Qaeda, al-Qaeda ở Maghreb (AQIM) vì sự can thiệp gần đây của Pháp ở Mali, nơi mà họ đã nắm quyền kiểm soát khu vực sa mạc phía bắc rộng lớn của đất nước.

Vùng tây bắc lục địa Phi rất giàu về dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản như vàng và uranium … mà các công ty quốc gia của Pháp đang khai thác.


Pháp là cựu thực dân của nhiều quốc gia ở Tây và Trung Phi và hiện đang duy trì một mối quan hệ chặt chẽ với hầu hết các chính quyền địa phương; những kẻ lãnh đạo thường do Tây phương nâng đở và không được người dân ủng hộ để tiếp tục khai thác tài nguyên của các đất nước này.

Dân gốc Pháp thường tụ tập sinh sống làm ăn ở các thành phố nói tiếng Pháp ở Tây Phi.

Từ tháng Giêng trước sự bành trướng thế lực nhanh chóng của AQIM ở Mali, Tổng thống Pháp Francois Hollande liền điều 4.000 quân Pháp đến Mali để chống lại các chiến binh Hồi giáo; dĩ nhiên là ‘do sự yêu cầu của chính phủ ở Bamako’ theo đúng kịch bản. Có tên lãnh tụ nước nhược tiểu nào bị lệ thuộc vào mẫu quốc mà dám phản đối? Điều này có nghĩa rằng lợi ích chính trị và kinh tế Pháp trong vùng này đã nhiều lần bị đe dọa.


Liền sau đó, một gia đình người Pháp bị bắt cóc ở phía Bắc xứ Cameroon và rồi được thả, và hiện vẫn còn khoảng một chục con tin - hầu hết là công dân Pháp – bị cầm giữ bởi tổ chức của các nhóm Hồi giáo cực đoan ở khu vực Sahel, sa mạc Sahara.

Các chuyến bay của Air France đến Mali bị giảm sút; hầu hết hành khách là công dân Pháp sống ở Mali, hoặc nhân viên quốc tế đi công tác. Khách du lịch Tây phương khác, đã từ lâu không tham gia các chuyến đi đến thành phố sa mạc lịch sử như Timbuktu vì có nguy cơ bị bắt làm con tin.

Hồi tháng Giêng, tư lệnh của al-Qaeda Mokhtar Belmokhtar đã tấn công bao vây một nhà máy khai thác khí đốt ở Algeria, ngay sau khi có sự can thiệp của Pháp ở Mali. Tại Dakar, Senegal ông Mignot cho biết Đại sứ quán đã nhận được cuộc gọi điện thoại nhiều hơn từ các nhà đầu tư tìm hiểu về tình hình an ninh trong những tháng gần đây do lo ngại rằng cuộc khủng hoảng Mali có thể tràn qua biên giới.

Hàng trăm binh sĩ Niger và lực lượng đặc biệt của Pháp đã được đưa đến bảo vệ các điểm khai thác uranium của công ty Arlit của Pháp ở Niger sau khi máy bay phản lực đầu tiên của Pháp bắn phá quân nổi dậy ở Mali.

III. Bài Học Bắc Phi

Bản tin làm cho Thiên Lôi tui nhớ đến một luận điệu cốt bào chữa cho tội ác của ‘mẫu quốc Pháp’ và ‘tòa rất thánh Vatican’ đối với dân tộc Việt Nam trong thời thuộc địa do đám trí thức hay chính trị gia nhà thờ, tạm gọi là ‘đám nhân xỉ - chứ không phải nhân sĩ -  nhà thờ’, hình như khởi đầu từ Nhóm Thông Luận ở Pháp, chủ yếu lý luận rằng “chuyện phát động chiến tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của Pháp (rồi Mỹ) của Đảng CSVN là không cần thiết. Theo thời thế thì sớm muộn gì thực dân cũng sẽ trao trả lại độc lập cho Việt Nam mà không phải tốn xương máu.”

Khi bày ra cái luận điểm vớ vẫn này thì các ‘nhân xỉ nhà thờ’ đã không đặt ngược câu hỏi rằng trong lịch sử giử gìn độc lập của dân tộc ta nếu tổ tiên và tiền nhân đã không hy sinh xương máu qua bao đời thì bọn Hán, Tấn, Lương, Tùy, Đường, Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Mãn Thanh... có trao trả lại độc lập cho ta chỉ nhờ vào lời cầu nguyện hiệp thông hay không?

Nếu mẫu quốc Pháp và Vatican cao thượng như thế thì cớ sao ban đầu lại bày lắm mưu nhiều kế ‘hiệp thông’ lẫn nhau mà xâm lăng đô hộ nước ta gây ra biết bao nhiêu khổ đau xương máu cho dân tộc ta?

Qua bài học ở các thuộc địa cũ của Pháp ở châu Phi, ta ngộ ra rằng chỉ vì các dân tộc ấy không có người sáng suốt lãnh đạo kháng chiến đánh đuổi bọn cướp nước và bọn gián điệp giả dạng tu sĩ để đạt được nền độc lập xứng đáng, và chỉ ngồi chờ ‘thời thế’ và sắp xếp của bọn thực dân trao lại nền ‘độc lập ký kết có điều kiện’, cho nên chúng đã lập nên những vùng di dân mẫu quốc để làm nội ứng và mới có thể kéo quân vào đất nước mình như vào nhà trống một khi quyền lợi của chúng bị đe dọa.

Đúng là lối lý luận kiểu nhà thờ “Chúa cha, chúa con và đại diện chúa không bao giờ sai”. Xưa rồi Diễm! Lối lý luận ấy chỉ có đám con chiên vổ tay, và được cái đài SBTN (Sủa Bậy Thâm Niên) ở Bôn Xa Xóm Đạo tuyên truyền cho mà thôi. Bỏ qua đi Tám!

Hình trái: Thời vàng son của các con chiên Mít khi Cờ tam tài của Thực dân Pháp bay khắp cỏi Đông Dương. Tuy nhiên, mang trong mình giòng máu chống ngoại xâm, dân tộc ta đã đánh bại và đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. Hình phải: Nữ nghĩa quân của Đinh Công Tráng bị bắt tại chiến lũy Ba Đình (hình của M.P. Dieuleflis chụp năm 1886) - Đám Thông Luận và những con chiên "chạy cờ" nhìn hình nầy không thấy nhục sao ?!

Giả sử chuyện mơ ước ấy nhờ cầu nguyện xảy ra thì tình trạng đất nước ngày nay có khác gì ở các cựu thuộc địa của Pháp. Đám lãnh đạo đất nước có khác gì Diệm Thiệu, giới chức dân và quân sự Pháp tiếp tục ép dân làm nô lệ, các tên xưa do Tây đặt ở Việt Nam đều được phục hồi, nào là Tonkin, Cochinchine, Tourane, Faifo, Cap Saint Jacques, Saigon, Faifo ..., tượng của 117 tên thánh phản quốc được dựng lên mọi chốn, khâm sứ Vatican được dân Chúa khiêng kiệu đi khắp nơi, Cam Ranh biến thành quân cảng của Pháp, nhiều vùng sẽ chỉ xài toàn tiếng Tây… cho sang. Các công ty tư bản sẽ khái thác triệt để các nguồn tài nguyên của Việt Nam, rồi dùng đô-la để lương dân cải đạo hết trơn, vv. và vv. Như thế thì nền độc lập nào quí giá hơn; giành lại bằng máu hay được trao trả bằng mãnh giấy có cam kết đủ điều?  Thôi xin tha cho dân nhờ, các ông nỡm ạ!

Điều đó cho thấy tinh thần quật cường của dân tộc Việt đã có cái gien truyền lại từ cha ông.

Đám nhân xỉ nhà thờ đúng ra nên nói rằng “Giá mà quan thầy thực dân và Vatican thấy trước nếu không nuốt nổi Việt Nam thì ở tiền bán thế kỷ 20 nên tìm cách ký kết trao trả độc lập cho Việt Nam thì bây giờ mọi chuyện đều thuận lợi cho mình – như ở châu Phi - theo sự quan phòng của Chúa hay không? Thực đáng tiếc và đáng tiếc để đám con chiên tan đàn như chúng con đây khỏi phải ngày đêm thổn thức tiếc thương chuyện không may đã xảy ra.”

Ô hô chỉ vì Chúa là một sản phẩm tưởng tượng của dân Do-Thái, rồi được bọn thực dân buôn thần bán thánh phù phép để chiếm xứ người vơ vét của cải thế gian nên do những đầu óc tham lam sai lầm của quan thầy thì hậu quả bi đát đám Mít phải nhận lấy là đương nhiên, còn than thở cái nổi gì. Hãy thoát khỏi cái thân phận làm chiên để vươn lên làm người thì mọi chuyện sẽ hợp logic ngay. Hãy gở bỏ cái vòng kim cô ‘vâng lời trong tuân phục’ do Vatican gắn quanh đầu chiên thì thoát khỏi nổi đau khổ thù hận triền miên được bọn chủ chăn nhắc lại mỗi tháng Tư bấy lâu nay.

Một điều cần phải nói thêm ở đây: Bọn tư bản lắm mưu nhiều kế và chiến thuật của chúng cũng ‘lăng ba vi bộ’ lắm ly kỳ làm ta khó hiểu. Bao lâu nay ai cũng biết việc tương kế tựu kế của hai tên ma đầu Mỹ tư bản và anh Chệt Đỏ tạo ra biết bao vũ khúc chính trị mê hoặc trên trường quốc tế mà nhiều người chưa thấu triệt được bí hiểm bên sau.

Mới ngày nào, khoảng đầu những năm 80s, báo chí Mỹ ca tụng sự vươn lên của 4 con rồng châu ÁNam Hàn, Hong Kong, Taiwan Singapore nhờ lao động rẽ cặm cụi lắp ráp đồ điện tử và may mặc  cho thần dân Tây phương tha hồ hưởng thụ và ông chủ tư bản rung đùi bỏ những món tiền kết xù vào ngân hàng.

Sau khi bắt tay được với chú Ba thì đùng một cái 4 con rồng kia biến thành 4 con giun. Từ nay chủ nhân ông đã có bọn lao động rẽ mới với nguồn nguyên liệu sản xuất tại chỗ nên Tàu Cộng trở nên ‘hổ phục’, muốn mượn chiêu sản xuất sợi dây thừng cho tư bản để chúng tự xiết cổ lấy. Hai bên hể hả vui mừng khôn tả cứ như hình ảnh cuộc gặp mặt giữa Mao Xến Xáng và  Nixon ở Đại Sảnh Đường Bắc Kinh ngày 21 tháng 2, năm 1972.

Sau mấy thập niên hì hục xây dựng hảng xưởng làm đồ lắp ráp cho tư bản Tây phương, bây giờ bọn lãnh đạo ở Bắc Kinh mới thấy bị tư bản lừa một vố nặng nhưng vì đồng đô-la đã ràng buộc chằng chịt nên đành ngậm bồ hòn làm ngọt.

Đó là bọn tư bản đã đổ một lượng rác ô nhiễm khổng lồ lên đất Tàu, những món mà bấy lâu nay chúng không muốn lưu lại trên đất nước mình, bèn tìm cách chiêu dụ bọn nghèo nhận lấy. Nguy cơ lâu dài cho môi trường sống ở đại lục từ đất đai, không khí, sông nước ... đã bị ô nhiễm trầm trọng bởi chất thải ông nghệ đầy phóng xạ. Bệnh suy nhược thần kinh kinh niên và ung thư ở giới lao động trong vùng kỷ nghệ gia tăng ... Tiền bạc kiếm được bấy lâu nay không đủ để dùng vào việc tái tạo môi trường trong sạch cho đại lục. Ai bảo bọn tư bản ngu, đã sản xuất ra sợi dây thừng cho giới vô sản xiết cổ mình? Mèo nào cắn mĩu nào?

 
Xin tham khảo:

1.

2.
3.
Chỉ mong mọi người con dân Việt đều biết rõ và giới lãnh đạo một nước nhỏ bé ở Hà Nội có nhãn quan sáng suốt hơn trong việc nhận đầu tư của giới tư bản, và coi chừng đồng chí phương bắc có thể gian xảo dùng đô-la để mua quan tham nhũngtrút rác bẩn lên giải giang sơn gấm vóc của cha ông để lại.

 
Thiên Lôi

Cuối Tháng 4, 2013.

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013


 
CÔN ĐẢO: NƠI LỊCH SỬ CÓ THỂ KHÁC

Lý Như Thế

“Gió đưa cây CẢI về trời
Rau RĂM ở lại chịu đời đắng cay”

Trong chuyến về Việt Nam vào tháng Tư năm 2013, tôi đã tham gia một chuyến đi thăm Côn Đảo, khu di-tích lịch sử. Sau một giờ bay ngắn ngủi bằng ATR72 từ Tân Sơn Nhất, tôi đến phi trường Cỏ Ống vào một buổi trưa dìu dịu nắng. Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là một quần đảo gồm 16 đảo mà đảo chánh, lớn nhất, được gọi là Đảo Côn Sơn (hay Côn Lôn, Côn Đảo, Phú Hải) với những tù nhân danh tiếng. Khu trung tâm dọc theo bờ biển gồm những con đường nhỏ yên tĩnh và những biệt thự kiểu kiến trúc Pháp thời Thực dân làm tôi nhớ lại thành phố biển Nha Trang vào những năm cuối thập niên 1950. Đặc biệt, bãi biển Đầm Trầu nằm gọn trong một con vịnh nhỏ có sóng nhè nhẹ và nước trong vắt như bãi Đá Nhảy ở Quảng Bình hay bãi Sidari trên đảo Corfu của Hy Lạp. Nhưng bãi Đầm Trầu có hàng thùy dương với nước trong xanh hơn và cát trắng mịn màng hơn rất nhiều.
 
Khách sạn của SaigonTourist nằm ngay sát bờ biển cũng dọn những bữa ăn đầy hải sản tươi ngon quý hiếm cho một Việt kiều từ Mỹ đã quen ăn đồ đông lạnh. Đáng lẽ tôi không nên “khoe” ra những điều nầy vì e rằng một khi Côn Đảo trở nên nổi tiếng thì nó có thể sẽ bị dày vò bừa bải và vô văn hóa như số phận của những thành ph du lịch loại Hạ Long, Nha Trang, Vũng Tàu.
Nhưng lý do thúc đẩy tôi viết bài nầy nằm ngoài mục đích du lịch mà liên hệ đến những dữ kiện lịch sử của hòn đảo không may mắn nầy.
      
Trong 4 ngày tại đây, tôi đã biết được những thông tin lịch sử đáng ghi nhớ.
-        Trước hết, Côn Đảo mang mối quốc nhục (mà cũng là quốc hận) là mãnh đất đầu tiên của đất nước Việt Nam (cùng với hải cảng Đà Nẵng) bị “nhượng” cho Thực dân Pháp qua Hiệp ước Versailles năm 1787 ký kết giữa vua  Louis 16 và Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) cầm tay Hoàng tử Cảnh đại diện cho Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long). Tuy sau đó Hiệp ước không được thực thi nhưng động thái can thiệp thô bạo và dễ dàng vào tình hình Việt Nam của một chức sắc Công giáo Pháp như thế đã khởi động cho quyết tâm và những chiến dịch xâm thực Việt Nam của các thế lực thế quyền và giáo quyền Pháp sau nầy, mở màn cho sự thiết lập nền đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam.     

-        Ngày 1 tháng 2 năm 1862, Đô đốc Louis Bonard ký quyết định xây nhà tù trên Côn Đảo để làm nơi nhốt tù nhân thường phạm và chính trị phạm. Và Côn Đảo đã chỉ có nhiệm vụ giữ tù nhân như vậy trong 92 năm cho đến 1954, khi Thực dân Pháp thua trận Điện Biên Phủ. Từ 1955 đến 1975, Côn Đảo vẫn không thoát được số phận làm nhà tù dưới hai chính quyền Cộng Hoà của Tổng thống Diệm và Thiệu. Sau tháng Tư năm 1975, tù nhân trên Côn Đảo được thả hoặc chuyển về đt liền để cho Côn Đảo ngày nay trở thành một trung tâm du lịch với những di tích lịch sử đầy đau thương bên cạnh những bờ biển đẹp tuyệt vời.

-        Trong 113 năm làm nhà tù, Côn Đảo đã giam giữ hai loại tù chính trị nổi tiếng. Một là tù chống thực dân gồm có Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Trần Cao Vân, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, … Hai là tù chống độc tài như Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh, Bùi Lượng,  Phạm Lợi, …

 
Cùng với những nhân vật tên tuổi nầy, tôi đã đi thăm Cầu tàu 914 (nơi cập bến của tàu chở tù từ đất liền ra đảo) và hệ thống những nhà tù nổi tiếng như Bagne I (còn gọi là trại Cộng Hòa) cổ nhất và lớn nhất, Bagne II (còn gọi là trại Nhân Vị), chuồng cọp Pháp, chuồng cọp Mỹ. Tổng cộng có 127 phòng giam, 44 xà lim và 504 phòng “Biệt lập chuồng cọp.” 
Bên cạnh những dấu tích tàn bạo của người đối với người, tôi lại được đọc một câu chuyện đã làm cho tôi ngẩn ngơ trong nhiều ngày. Đoạn dưới đây trích từ cuốn “Sơ lược về Khu Di tích Lịch sử Côn Đảo và những Truyền Thuyết” do Ban Quản Lý Di tích Côn Đảo xuất bản năm 2011 mà tôi xin chọn những phần đáng chú ý:
 
Tục truyền: Bà Phi Yến là thứ phi, không  rõ là người vợ thứ mấy của chúa Nguyễn Phúc Ánh. Bà còn có tên gọi Lê thị Răm, sanh hạ ra Hoàng tử Hội An, còn có tên gọi Hoàng tử Cải. Cuối mùa thu năm 1783, Nguyễn Ánh bỏ đất liền bôn ba chạy ra Côn Đảo để tránh nạn. Vì bị quân Tây Sơn săn đuổi, Nguyễn Phúc Ánh cùng các quan cận thần và linh mục Bá Đa Lộc bày mưu tính kế, có ý định đưa Hoàng tử Cải cùng linh mục Bá Đa Lộc sang Pháp để làm con tin xin cầu viện. Bà Phi Yến rất không bằng lòng về điểm này đã nói lên những lời khuyên can của mình rằng:
 
Việc đánh nhau với Tây Sơn ta có thể coi như việc trong nhà, chúa công nên dụng nghĩa binh trong nước thì hơn. Bệ hạ nhờ sức mạnh của người ngoài về giải quyết vấn đề nội bộ dù chúng ta có thắng Tây Sơn đi nữa cũng chẳng vẻ vang gì, thiếp e còn lắm điều rắc rối về sau…”.
 
Chỉ mấy lời khuyên can ấy mà Nguyễn Ánh nổi trận lôi đình, nghi bà Phi Yến có ẩn ý thông đồng Tây Sơn. Trước cảnh búa rìu sấm sét của một vị chúa độc tài, bà Phi Yến vẫn giữ lập trường kiên định không cho Hoàng tử Hội An đi làm tôi con cho ngoại bang, và muôn năm sau lịch sử sẽ bia truyền cái tội cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ. Nếu không có các quan cận thận can ngăn ắt hẳn bà Phi Yến không thoát khỏi tội chém đầu. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh vẫn còn ác ý làm khổ người vợ trẻ bằng cách sai giam cầm bà vào một hang đá trên một hòn đảo hoang vắng. Địa danh Hòn Bà ra đời từ đó.
Vừa nhốt xong bà Phi Yến thì nghe tin có quân Tây Sơn sắp tràn ra đảo. Nguyễn Ánh bèn cùng đám tùy tùng xuống mấy chiếc thuyền chạy về đảo Phú Quốc. Khi thuyền sắp nhổ neo, Hoàng tử thấy sao không có mẹ mình bèn hỏi thăm người nọ người kia, có người trung nghĩa tiết lộ mẹ của Hoàng tử đang bị giam cầm. Khi đó Cậu mới khóc rống lên kêu gào thảm thiết để yêu cầu với cha là cho mẹ cùng theo, hoặc là cùng sống chết với mẹ. Nguyễn Ánh không bằng lòng bảo với các quan: thằng nhãi con này rất có thể một lòng với người mẹ phản trắc của nó. Ngay bây giờ nếu ta không loại trừ trước, biết đâu nó chẵng là kẻ loạn thần tặc tử sau này? Nói đoạn chính tay ông vừa xách đầu đứa con vô tội ném xuống biển vừa nói: đấy mi muốn thế ta cho phép mi ở lại để được trọn niềm hiếu thảo với mẹ mi!
Thảm thương thay cho Hoàng tử Hội An mới có 5 tuổi nên phải chết chìm dưới dòng nước xanh ở bãi biển Đầm Trầu. Dân làng Cỏ Ống động lòng, xúm nhau vụn đất, đắp đá cho nấm mộ được cao lên. Rồi lập miếu phía trước mộ để thờ Hoàng tử. miếu ấy mệnh danh là Miếu Cậu.
Sau đó người ta truyền rằng Đức bà Phi Yến và Hoàng tử Hội an đã hiển thánh, thường hiện về mách bảo cho dân làng biết điềm lành hay chuyện dữ sắp xảy ra. Đức bà Phi Yến đã nêu cao tấm gương ái quốc, sáng suốt nhận định được quốc vận hậu lai, trước cảnh búa rìu sấm sét của vị chúa độc đoán, bà vẫn một niềm cương quyết chống trả không chịu đồng lõa với những hành động có tội với lịch sử. Đến như Hoàng tử Hội An tuy mới 5 tuổi đã tỏ ra là đứa con chí hiếu thà chịu chết với mẹ hiền còn hơn là tham sống với người cha thô bạo.
Từ đó đến nay bà con, nhân dân Côn Đảo hàng năm đều tổ chức lễ giỗ Bà vào ngày 18/10 âm lịch.
(Ngưng trích)
Miếu Bà (Lê thị Răm tức Thứ phi Phi Yến)
Miếu Cậu (Hoàng tử Cải, tức Hoàng tử Hội An)

Câu chuyện về Bà Phi Yến và Hoàng tử Cải đã gợi hứng cho nhạc sĩ Trần Tiến viết bản nhạc “Quê Nhà” nổi tiếng (http://www.youtube.com/watch?v=n7-G6G0RQew) đã được nhiều ca sĩ trình bày.
 
“À ơi…à ơi hoa CẢI lên trời
Rau RĂM ở lại chịu đời đắng cay"
 
Riêng tôi, khi nghe người hướng dẫn viên kể chuyện nầy trên thềm ngôi An Sơn Miếu thờ bà Phi Yến thì tôi ngẩn ngơ nghĩ đến một giả tưởng lịch sử. Giả tưởng đó là nếu Nguyễn Phúc Ánh (năm 1783 mới chỉ 21 tuổi) đã có tâm thức dân tộc và viễn kiến chính trị để nghe theo lời khuyên của bà Phi Yến thì lịch sử cận đại Việt Nam sẽ đi theo một ngã rẽ bình yên hay tang tóc hơn? Nếu Nguyễn Phúc Ánh không nghe lời dụ dỗ của Giám mục Bá Đa Lộc, không “cõng rắn (Pháp) cắn gà nhà” mà tự lực tiếp tục chống phe Tây Sơn thì chuyện gì có thể xảy ra?

Ta sẽ có hai khả thể lịch sử:

■ Không có hiệp ước Versailles 1787 để kích thích và mở đường cho “rắn” vào “nhà”, trong 5 năm trước khi Nguyễn Huệ lâm bạo bệnh mà chết (1792), nhà Tây Sơn có thể dùng binh hùng tướng mạnh mà tiêu diệt phe Nguyễn Phúc Ánh ở phía Nam rồi mở rộng biên cương phía Bắc chiếm các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Hoa tạo thành một quốc gia cường thịnh. Nhờ thế, các thế lực thực dân Anh, Mỹ, Pháp, … không thể xâm lăng và áp đặt một nền thống trị thuộc địa, tạo tiền đề cho phong trào Cộng sản quốc tế cởi làn sóng giải thực toàn cầu mà sinh sôi nẩy nở trên đất nước Việt Nam.

■ Suy yếu vì chia rẽ nội bộ (Nguyễn Nhạc than “bì oa trữ nhục” với Nguyễn Huệ ở thành Quy Nhơn) và sau cái chết của Nguyễn Huệ, thì dù không có hiệp ước Versailles kích hoạt  mở đường cho “rắn” xâm lược Pháp vào “nhà” Việt Nam, nhà Tây Sơn cũng sẽ bị tiêu diệt trước cuộc chiến đấu kiên trì của Nguyễn Phúc Ánh là người có một hậu thuẩn nhân dân ở miền Nam. Rồi vì Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua mà không mang “nợ” các Linh mục Tây phương nên các đế quốc Pháp, Anh, Mỹ sẽ không có đội quân nội ứng Công giáo bản xứ, loại như cụ Sáu Linh mục Trần Lục mà chính Giám mục Puginier đã hãnh diện cho rằng ““Không có các giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp cũng ging như cua bị bẻ gãy hết càng (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes) để tấn chiếm Việt Nam. Nhờ vậy, các liệt cường Tây phương sẽ phải chấp nhận độc lập của Việt Nam như với Nhật, Thái Lan, … để cho Việt Nam không cần một cuộc chiến tranh giải thực, đẩy đảng Cọng Sản lên vị trí toàn trị cả trong thời chiến ngày xưa lẫn thời bình ngày nay. 
 
Tuy nhiên, vì lịch sử không làm bằng những chử “nếu” và vì tâm can và trí tuệ của bà Hoàng phi Lê Thị Răm không được Nguyễn Phúc Ánh nghe theo, nên Tây, Tàu, Nhật, Nga, Anh, Mỹ đã thay nhau đày đoạ dân ta trôi nỗi trong…
  
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ một nước Việt buồn
(Gia tài của Mẹ - Trịnh Công Sơn)

Lịch sử quả là một chuổi lồng lộng những ván cờ tướng liên hoàn phức tạp mà sau mỗi lần hạ thủ bất hoàn, người chơi cờ, nhiều lúc, lại xót xa với những ch “nếu” cay đắng và lạnh lùng.

 LÝ NHƯ THẾ

Phụ chú:
Hài cốt của Giám mục Bá Đa Lộc được thờ ở Lăng Cha Cả cho đến hết thời nhà Nguyễn sang hết cả hai chính thể Việt Nam Cộng hòa. Năm 1983, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cải táng mộ phần, san bằng khu lăng cổ và trao di cốt lại cho lãnh sự Pháp đem hồi hương. Di cốt, khi về lại Pháp, được đem chôn trong nhà thờ Séminaire des Missions Etrangères, rue du Bac, tại quận XV, Paris.

 

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013


 
LIÊN HỆ THỰC DÂN VÀ CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM

Nguyễn Văn Trung 

[Trích từ Chủ nghĩa Thực dân Pháp ở Việt Nam - Thực Chất Và Huyền Thoại
Nhà xuất bản Nam Sơn, ngày 28-11-1963, Sài Gòn]

 
      ● Ông Nguyễn Văn Trung là một trí thức Công giáo, tốt nghiệp Tiến sĩ Triết tại Institut Supérieur de Philosophie, Đại học Công giáo Louvain (Belgique) với luận án La Conception Bouddhique du Devenir (Biến dịch theo quan điểm Phật giáo). Luận án nầy bị phê phán là để “…Những thế lực văn hóa ngoại lai, dầu che đậy dưới chiêu bài Chủ nghĩa Nhân vị hay núp bóng trong những giảng đường đại học, tấn công Phật Giáo với cùng một ý đồ, cùng một luận điệu đã được hấp thụ từ trời Tây. Trường hợp Nguyễn Văn Trung với luận án Tiến sĩ về Phật Giáo ở Đại học Công Giáo Louvain chỉ là một trường hợp điển hình”. Để biết vài sinh hoạt của ông Trung sau khi về nước dạy học tại hai Đại học Văn khoa Huế và Sài Gòn (và đặc biệt ngay sau 1975), xin đọc “Thư Ngỏ gửi Giáo sư Nguyễn Văn Trung” của Cha Trần Thái Đỉnh. Từ 1975 đến 1994, ông sống tại Sài Gòn và làm việc tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM. Sau 1994, ông sống tại thành phố Montréal, Canada.

 
Hai anh em ông Nguyễn Văn Trung (trái) và Nguyễn Văn Lục
        Điều thú vị “bên lề” là ông Trung lại chính là anh của ông Nguyễn Văn Lục, người nỗi tiếng bênh vực chế độ Diệm một cách điên cuồng, trở thành nỗi ám ảnh (bị obssédé) đến độ cho rằng vụ tự tử của văn hào Nhất Linh để phản đối chế độ Diệm (ngày 7-7-1963) là vì Nhất Linh bị bệnh … tâm thần, và ý định quyên sinh được manh nha từ … 10 năm trước, chứ Nhất Linh chẳng chống đối gì chế độ Diệm rất tốt đẹp đó cả ! Ông Nguyễn Tường Thiết, thứ nam của nhà văn Nhất Linh, đã làm sáng tỏ vụ việc và vạch trần ý đồ đen tối của ông Lục trong bài viết Sự thật về cái chết của Nhất Linh” trên nhật báo  Người Việt ở California vào ngày 1/2/2012.

         Riêng đoạn ngắn dưới đây, trích từ tác phẩm “Chủ nghĩa Thực dân Pháp ở Việt Nam - Thực Chất Và Huyền Thoại” của ông Nguyễn Văn Trung, mô tả chính sách thuộc địa và phân tích những chứng lý quanh các hoạt động của “ông quan thuộc địa” Lanessan, đã là lời “đấm ngực’ cực kỳ hiếm hoi của một trí thức Công giáo Việt Nam (ngoài Linh mục Trần tam Tĩnh, cha Nguyễn Ngọc Lan và ông Lý Chánh Trung) quyết định chấp nhận sự thật, không mạo hóa lịch sử, về sự toa rập không thể chối cải giữa Thực dân và Công giáo trong quá trình xâm lăng và đô hộ nước ta trong gần 100 năm. Cuộc toa rập xấu xa đó vốn là nỗi phẫn uất nhức nhối của lịch sử dân tộc nhưng, cho đến bây giờ, thê thảm thay vẫn là niềm hảnh diện của lịch sử Công giáo Việt Nam. – Nắm vững được ngọn nguồn cuộc toa rập đó trong lịch sử cận đại nước ta thì dễ phát hiện và lột trần được bản chất phi dân tộc của những động thái phản dân tộc của người Công giáo Việt Nam trong quá khứ cũng như bây giờ.
 

 
LANESSAN  (Trang 108-113)
Jean Marie Antoine de Lanessan (1843-1919)

Lanessan là ông quan thuộc địa đầu tiên gây dựng cho chế độ thực dân ở Đông Dương một chủ nghĩa, một chính sách hẳn hoi. Chủ nghĩa ở đây chưa hẳn là một hệ tư tưởng hoàn toàn, nhưng chủ yếu chỉ là một đường lối, kế hoạch nhằm xác-định những tiêu chuẩn hướng dẫn hành động cụ thể là việc cai trị thuộc địa.

      Ông là một người trí thức, giáo sư thạc sĩ sinh vật học ở trường Y khoa Paris, tác giả nhiều sách nghiên cứu khoa học và sau khi được Chính phủ cử đi tham quan các thuộc điạ Pháp và được đặt làm Toàn quyền Đông Dương, ông viết nhiều sách biên khảo về thuộc-điạ.

      Có lẽ Lanessan là người tiêu biểu hơn cả về đường lối chính trị cao trong những buổi đầu của chế độ thực dân.

      Đọc những sách ông viết, người ta không thấy cái giọng sảo quyệt và thái-độ khinh bỉ người Việt như Lyautey (Xin xem Phụ chú ở cuối bài về ông Tây Lyautey này).  Ngược lại hình như ông vẫn giữ được thái độ nghiên cứu trong khi khảo sát thực tại thuộc địa như thái độ của một chuyên viên, một nhà kỹ thuật.

      Đã hẵn ông tin ở thuộc điạ và nhằm phục vụ quyền lợi thuộc địa của nước Pháp. Nhưng vì ông cho rằng chỉ phục vụ tốt, lâu dài quyền lợi đó khi những người lãnh đạo thuộc địa không vụng về và bạc đãi quá người bản xứ.  Đó là đường lối chính trị cao. Có lẽ khi ông làm Toàn quyền, ông cũng khôn khéo, dè dặt, biết điều đối với người bản xứ qua một vài vụ khó xử mà ông đã trích dẫn làm ví dụ trong các sách của ông.

      Trong cuốn “Sự bành-trướng thuộc-điạ của nước Pháp” (1), hơn một nghìn trang, ông nghiên-cứu về điạ lý, khí hậu, dân tộc, văn hóa các thuộc-điạ của Pháp để đặt một cơ sở lý thuyết có tính chất thực tiẽn, cho việc khai thác thuộc-điạ.  Trong sách, có một phần bàn về Đông-dương.  Có lẽ đây cũng là một trong những công trình biên khảo đầu-tiên của người Pháp về đất đai sông ngòi, khí hậu, sinh-vật ở Việt-Nam.

      Một nguyên tắc căn bản mà Lanessan rút ra được từ công trình biên khảo ít nhiều có tính cách khoa học về điạ lý, nhân văn của các thuộc điạ là:

      Mỗi nơi có một hoàn-cảnh điạ lý, văn hoá, dân tộc khác nhau, mỗi xứ có những khả năng để khai thác khác nhau, nên chính sách thuộc điạ cũng phải thay đổi để thích nghi.  Chẳng hạn không thể coi xứ Annam như một xứ thuộc điạ Phi-châu.

      Lanessan viết:

      “Từ những nguyên tắc đó, phải coi xứ Annam như một thuộc điạ có một nền văn minh tương-đối cao, có một khí-hậu không thuận lợi cho việc phát triển vô hạn going giống chúng ta, cũng không thuận tiện cho việc cư ngụ mãi mãi người Âu châu; cho nên chúng ta sẽ coi việc cố gắng tôn trọng những chế tài chính trị, xã hội của người Annam làm tiêu chuẩn tổ chức thuộc điạ. Chúng ta phải coi dân chúng ở thuộc điạ này như người hiệp tác (associé) trong công cuộc văn minh tiến bộ mà bất cứ một công cuộc thực dân nào cũng phải coi như là mục tiêu”, (trang 542)

      “Một xứ rất giàu về nông sản, không kể những nguyên liệu hầm mỏ, có một tương lai thương mại rất lớn, từ nay ở dưới quyền cai trị của ta.  Dân cư của nó, ước độ 20 triệu là một trong số những dân diụ dàng và dễ cai trị nhất hoàn cầu; đó cũng là một dân thông-minh nhất trong số những dân bị người Âu châu cai trị.  Sau cùng sức bành trướng của dân tộc này khá mạnh cho nên chúng ta có thể mong rằng sau này nó sẽ tràn khắp các miền còn hoang vu ở những xứ giáp với sông Cửu Long, Sông Đồng Nai, sông Hồng, nghiã là phần đất đẹp và giàu nhất Đông dương.

      Muốn đạt tới những kết quả đó, phải làm gì? cần những người cai trị sang suốt và cần mẫn biết tôn trọng luật lệ, phong tục người bản xứ và biết làm cho họ cộng tác với mình trong công cuộc xây đắp văn minh…Cần những người thực dân khéo léo hơn là có nhiều , những nhà tư bản đáng tín nhiệm và quả cảm. Nếu những điều kiện đó không tìm thấy ở Pháp, thì phải thất vọng về tương lai buôn bán, kỹ nghệ và chính trị của nước chúng ta” (trang 692).

      Cuốn thứ hai viết riêng về Đông-Dương (2) sau khi đi tham quan về, vừa có tính cách biên khảo, vừa như là một bản bá cáo, tường trình tình hình cho chính phủ Pháp. Sách dầy gần 800 trang bàn nhiều về đường lối nên theo ở Đông-Dương.  Lanessan chủ-trương bảo hộ thực sự. Chỉ dùng một số người Pháp cai trị có khả năng, khôn khéo để lãnh đạo; còn sự thừa hành nhường lại cho người bản xứ và tôn trọng quyền hạn của họ, nhất là ở Bắc kỳ và Trung kỳ, Lanessan tố cáo “chính sách mập mờ” của Pháp mà Lanessan cho là tai hại:

      “Hai chánh sách khác nhau có thể áp dụng ở Trung kỳ và Bắc kỳ, chính sách sát nhập và Bảo hộ.  Nhưng cả hai không bao giờ được thực hiện một cách ngay thẳng rõ rệt” (trang 683).

      Theo Lanessan, chính những quan cai trị Nam-kỳ chủ trương chính sách sát nhập Trung và Bắc kỳ.  Tinh-thần hoà ước 1883 và 1884 là muốn tách Bắc kỳ khỏi Trung kỳ để tạo ra chế độ chính trị khác nhau và để về sau sát nhập Bắc kỳ trước, rồi Trung kỳ sau.

      “Ở Bắc kỳ, chính sách của chúng ta ngay từ ngày đầu là chính sách chiếm đoạt hay sát nhập trá hình” (trang 700).

      Cũng theo Lanessan, về sau, bọn quan cai trị Nam kỳ không thể thực hiện ngay chính sách biến Trung và Bắc kỳ thành thuộc điạ, nên họ tạo ra cái “Liên hiệp Đông Dương” và lập toàn quyền:

      “Buộc phải từ bỏ chính sách vết dầu loang, những tay chủ trương sát nhập ở Sài gòn bám vào ý tưởng một lien hiệp Đông dương nghĩa là sự thành-lập một toàn quyền chung mà Sài gòn sẽ là Thủ Đô” (trang 747).

      Lập Liên hiệp tức là nhằm xoá bỏ tính cách tự trị của mọi xứ trong liên bang.

      Trong sách, Lanessan cũng chú trọng tới vấn đề đối xử với các tôn giáo mà ông sẽ còn nói nhiều hơn trong cuốn “Nguyên-tắc Thực-dân

      Lanessan chống lại chính sách của những người Pháp muốn ưu đãi người Công giáo để cho họ trung thành với nước Pháp.  Nhưng Lanessan cho rằng thành-phần theo đạo Thiên Chúa thường dốt, nghèo, không phải thành phần giàu có, học thức, nên không lợi gì mà trái lại còn hại“khi chính-quyền sốt sắng nâng đỡ người Công-giáo, chính-quyền làm mất lòng một phần lớn dân chúng và làm hỏng công cuộc khai khẩn thuộc-điạ , và Lanessan kết luận:

      “Quyền- bính của nước Pháp sẽ được tôn trọng hơn nếu đừng tự coi trước mặt người Phật giáo như đứa con trưởng của Giáo-hội La Mã (trang 61).

      Nói cách khác, Lanessan chống lại đường lối các “hội thừa sai hay là chính sách thực dân bằng tôn giáo” (colonisation par la religion) như đã thi hành ở Phi Luật Tân; chẳng những không lợi về kinh tế vì chả mở mang được gì mà còn hại về tâm lý, và chủ trương một chính sách thực dân theo lối đời (colonisation laique) như người Anh và Hoà Lan đã làm.

      Ông viết: “Trong khi những thuộc địa Hoà-Lan, Anh có những con đưòng đẹp, đường xe lửa cầu cống, thì Phi-Luật-Tân chỉ có đường nhựa ở vùng lân cận những trung tâm lớn và tất cả ngân-sách đều dùng vào việc xây nhà thờ, nhà dòng và dinh-thự công cộng” (trang 43)

      Lanessan tố cáo chính sách ưu đãi người Công giáo vì mục đích chính trị; bằng cách chứng minh rằng chánh sách đó không lợi gì về chính-trị:

      “Chúng ta có thấy đó là sai nhầm không khi chúng ta coi đạo của chúng ta như chính sách chính trị của chúng ta, đến nỗi có thể làm cho người bản xứ nghĩ rằng người Pháp và Công giáo là như nhau? Chúng ta có tôn-trọng những đền chùa, thần linh của người Bản xứ như chúng ta muốn người ta tôn trọng nhà thờ và Chúa của chúng ta?

      Ở khắp xứ Bắc kỳ và Trung kỳ, tôi thấy những chùa chiền bị quân-đội chiếm-đóng, đôi khi một cách vô ích, làm gương xấu cho dân chúng; binh lính của ta còn ăn trộm cắp những đồ thờ phượng rất được tôn trọng và thường cấp chỉ huy bịt tai không nghe những lời khiếu naị chính đáng của quan lại bản-xứ,…Tôi không muốn nói tới những bắt nạt đủ thứ mà nhân viên của chúng ta đã đối xử với người Phật giáo trong khi họ chiều chuộng, thi-ân cho những người bản-xứ trở lại đạo Công giáo…” (trang 60).
Giám mục Paul-Franҫois Puginier (1835-1892) của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris

Nhưng nhất là ông tố cáo sự để cho các Hội Thừa sai dính vào chính trị hay lơị dụng chính-trị để truyền đạo.

      Lanessan cho rằng chính sách trực trị mà một số người Pháp muốn thi hành ở Bắc kỳ là do ảnh-hưởng và áp lực thừa sai, như Giám mục Puginier. Thừa sai chủ trương trực trị, vì như thế sẽ tiêu diệt được bọn nho sĩ là lớp người có thể ngăn cản việc truyền đạo bằng vốn học và niềm tin, đạo đức cố chấp của họ. Lanessan thuật laị buổi nói chuyện với Giám mục Puginier:

      “Vì ngài cứ nhấn mạnh mãi với tôi cần phải tiêu-diệt bọn nho-sĩ, tôi không không thể không nhắc cho ngài hiểu rằng, chính sách tiêu diệt những người giàu có nhất và có học nhất, sẽ đưa chúng ta đến chỗ sát nhập và chiếm đoạt.  Tôi nói:Tôi thừa hiểu Ngài muốn phá tan bọn nho sĩ mà ngài coi như một sức kháng cự mãnh liệt việc truyền-đạo của Ngài; nhưng khi ngài khuyên những người đại diện của chúng tôi giữ một thái độ mà hậu quả sẽ làm cho cả một phần lực lượng dân chúng nổi dậy chống lại chúng tôi, thì chính Ngài đã thúc đẩy họ phạm một lầm lỗi nghiêm-trọng và nguy hiểm. Nếu Ngài tưởng làm như vậy là phục vụ quyền lợi nước Pháp thì quả thật là nhầm lớn: Ngài làm cho việc bình trị và nền bảo hộ mà Hoà ước 1884 đã thiết-lập ở Trung kỳ, Bắc kỳ không thể thi hành được và do đó Ngài đưa chúng ta vào chỗ phải hao tổn rất nhiều tiền và người”.

      “Tuy nhiên quả thật chính sách của thừa sai là chính sách vẫn được áp dụng từ trước đến nay.  Chính đường lối đó chỉ đạo một cách trực tiếp hay gián tiếp việc Ông Harmand hay Patenôtre ký các hoà ước và những dự định của Paul Bert mà tôi đã nói ở trên” (trang 715-716)


      ■ THÁI ĐỘ ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI BẢN XỨ, VỀ PHƯƠNG DIỆN TÔN TRỌNG NGƯỜI, CỦA CẢI, TÔN GIÁO, PHONG TỤC, TẬP QUÁN, XÃ HỘI.  (Trang 114-117)

      Trước hết, Lanessan thẳng thắn nhận rằng không thể kể hết những tội ác do những kẻ đi chiếm thuộc điạ phạm. Nguyên nhân chính là vì họ coi những dân thuộc điạ  không phải là con người hay chỉ là một thứ người hạ cấp, do đó họ không cần phải kính nể gì và tha hồ xâm-phạm tới của cải, tôn giáo, phong tục, ngay cả sự sống của người bản-xứ.  Như thế “việc thực dân ngày nay tàn bạo chẳng kém gì thuở xưa” (trang 49).

      “Tất cả những ai biết lịch sử chinh-phục thuộc điạ của các nước Âu châu, đêù thấy rõ những đạo binh âu châu đã tàn bạo thế nào trong khi xâm chiếm thuộc điạ, không có một chiến-thắng nào của họ không kèm theo những cuộc tàn sát kinh khủng, và những báo chí ở các thủ đô của chúng ta đã ghi số người bản xứ bị ngã gục dưới làn đạn của chúng ta hay bị tiêu diệt vì trái phá, lưỡi lê của chúng ta một cách thật là vui vẻ”…(trang 50)

      Rồi Lanessan nhắc tới một vài tàn sát như vụ tên thực dân Peters ở Phi Châu giết những người cu-li không chịu gánh đồ cho hắn hoặc đốt cả một làng làm sáng đêm Sinh-Nhật để mừng Lễ Giáng Sinh! Ở Việt Nam, Lanessan kể việc một tên thanh tra. trong hai tuần hồi năm 1891, đã chặt đầu 75 quan viên thuộc về một huyện mà thôi của thành-phố Hà Nội, vì họ không khai báo những hoạt động của những người làm loạn. Lanessan công nhận rằng những cuộc khủng bố như vậy thường rất hay xẩy ra ở đồng bằng Bắc kỳ hồi đó. Hơn nữa những cuộc tàn sát này còn kèm theo những vụ đốt cả làng, mùa màng khi họ bị tình nghi là theo “giặc” như một người Pháp đã tóm-lược tất cả những gì mà Lanessan muốn nói: “một biện-pháp khác là tuyên-bố cả làng liên-đới chịu trách nhiệm khi họ chứa chấp một đám phiến loạn hay không khai báo.  Rồi đem xã-trưởng và một vài người tai mắt trong làng ra chặt đầu, sau cùng đốt làng thành bình điạ.  Như thế, người ta có thể chắc chắn là sau đó những làng bên cạnh sẽ khai báo những toán phiến loạn qua lại.  Người ta chỉ có thể cai trị dân này bằng khủng-bố” (trang 56).

      Lanessan đứng ở cương vị thực dân tế nhị cao cấp chống lại với những thái độ tàn sát dã man đó vì cho rằng làm như vậy là “bất lợi” có hại về đường chính trị.  Đã không tôn trọng sự sống của con người, thì còn nói gì tới tôn trọng của cải, phong tục, tôn giáo của dân bị trị.  Thực dân phá hủy đền thờ, chùa chiền, hoặc dùng làm trụ sở nơi đóng quân.  Lanessan kể lại khi đi tới đâu, những đơn khiếu nại hầu hết đều xin trả lại chùa, đình hay tôn trọng đền thờ, văn miếu

      Lanessan đưa ra tiêu chuẩn căn bản: phải tuyệt đối tôn trọng phong tục, lễ nghi, tôn giáo cổ truyền của người bản xứ. Nhưng còn một vấn đề phức tạp khác là người thực dân cần phải có một thái độ thế nào với các thừa sai và tín hữu theo Ki-tô giaó.

      Lanessan nhận-định rằng: “Bất cứ một người Annam theo đạo Thiên Chúa đều bị người đồng hương coi như một kẻ phản bội tổ quốc” (trang 68) do đó, những nguyên nhân cấm đạo tàn sát giáo dân không có tính cách tôn-giáo như người ta vẫn lầm tưởng dân Việt Nam rất khoan dung về tín ngưỡng, mà chỉ có tính cách ái quốc thôi.  Như Linh Mục Louvel trong cuốn “Đức cha Puginier” cũng đã viết: “ Sự bách hại người Công giáo mang mặc tính chất một cuộc trả thù của lòng yêu nước chống lại việc thiết lập chế độ bảo hộ”.

      Và đứng về phiá thực dân, chính quyền bảo hộ phải tránh những hành động có thể làm cho người bản xứ không theo Công giáo dị nghị và mất lòng như tránh ưu đãi người Công giáo, hay không nên để cho người Công giáo, thừa sai can thiệp vào việc cai trị.  Tuy nhiên vì lợi ích thực dân, chính quyền bảo hộ phải biết lợi dụng sự truyền giáo một cách khéo léo.  Ở đây Lanessan đã có những nhận xét tế nhị về cách truyền giáo nào là lợi cho việc thực dân.

Évêque en tournée – Collection de MEP (Courtesy: L’Indochine coloniale)
(Cố đạo Tây đang vi hành - Tài liệu của Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris)

      Theo Lanessan, các vị thừa sai Công giáo thường nhắm quần-chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cắp để giảng đạo.  Nói cách khác, người Công giáo thường thuộc thành phần những giai cấp thấp hèn nhất trong xã-hội.  Những người này thường được tập họp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn thể dân tộc.  Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo, giao thiệp với người Lương có thể quay lại những phong tục lễ nghi ngoại-đạo. Cũng vì lý do sợ đó mà họ đã tạo ra chữ quốc ngữ chủ-đích là để cho giáo dân khi biết đọc chữ quốc ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại nếu để cho họ học chữ Nho, sợ họ có thể thong cảm lại với tư tưởng ngoại giáo.  Thành ra việc sáng lập chữ Quốc ngữ phải chăng nhằm một mục đích “ngu-dânly khai với văn-hoá dân tộc?

      Về hoạt động, các vị thừa sai cũng chỉ lo dậy đạo, và có một đời sống hoà đồng với lối sống đơn giản khó nghèo của dân chúng ăn mặc, ở như họ.

      Trái lại, đạo Tin Lành thường nhắm những tầng lớp thượng lưu, qúy phái, các mục sư dậy đạo cho người bản xứ bằng tiếng nói của nước bảo hộ, đồng thời tập cho họ những thói quen mới theo phong tục, lối sống Tây phương, do đó cũng tạo cho họ những nhu cầu mới.

      Hơn nữa, con nhà qúy phái theo đạo Tin Lành còn có thể được gửi ngay sang mẫu quốc ăn học, trong khi con cái người Công giáo ở thành phần nghèo, Linh mục cũng nghèo, không nghĩ đến chuyện được gởi đi du học.  Cách truyền giáo như vậy có lợi vì làm cho người theo đạo đi vào cộng đồng văn hoá với người bảo hộ, tạo điều kiện hiểu nhau dễ dàng hơn, đồng thời cũng làm phát triển kỹ nghệ thương mại: ví dụ trong khi Linh-Mục công giáo mặc áo giống áo của người bản xứ và cùng một thứ vải nội hoá thì mục-sư Tin-lành làm cho những người theo đạo ăn mặc giống như Âu châu. Do đó, “Ở khắp nơi, Tin Lành có tính cách chính trị nhiều hơn Công giáo” (trang 74)

      “Đời sống của vị thừa sai công giáo có thể là đầy hy sinh rất lợi ích cho sự truyền bá đạo nhưng không giúp ích gì cho quyền lợi những nhà máy ở quê hương họ” (trang 82).

      Và “người ta có thể quả quyết rằng những xứ đạo Tin Lành giúp ích nhiều hơn cho công cuộc thực dân của những Quốc-gia là quê hương của các vị thừa-sai đó, hơn là những xứ đạo Công giáo” (trang 84) 


      ● Chú Thích: 

(1)   L’expansion coloniale de la France, etude économique, plolitique et géographique sur les établissements francais d’outre-mer”. Paris, 1886
(2)   L’Indochine francaise (etude politique, économique et administrative sur la cochinchine, le Cambodge, l’Annam et le Tonkin”. F. Alcan. Paris, 1889

      ● Phụ Chú: 

      Tác giả Nguyễn Văn Trung đã viết về Lyautey  ở trang 101-102 như sau:
      “Lyautey và Galliéni là hai người thực dân nổi tiếng về bình trị (pacification) tức là giai đoạn tiếp sau giai đoạn xâm lăng. Tây gọi là công cuộc dẹp giặc, trộm cướp. Chữ giặc, trộm cướp (pirate) đây để gọi cả những phong trào ái quốc chống lại thực dân – như Đề Thám, Nguyễn Thiện Thuật v.v. . . Lyautey đã ghi lại những nhận xét của Ông ta về việc bình trị và cai trị thuộc địa trong tập “Thư Từ xứ Bắc kỳ và Madagascar”. 

      ● Sách của Lanessan & Lyautey: 

      Jean Marie Antoine de Lanessan (Toàn quyền Đông Dương, 1891-1894):
      - L’Expansion coloniale de la France. Etude économique, politique et géographique sur les établissements francais d’outre-mer. Paris, 1886.
      - L’Indochine francaise (étude politique, économique et administrative sur la Cochinchine, le Cambodge, l’Annam et le Tonkin). Alcan. Paris, 1889.
      - Principes de colonisation. Alcan. Paris, 1897.
- Les missions et leur protectorat. Paris, 1907. 
      Louis Hubert Gonzalve Lyautey (Chánh võ phòng Toàn quyền Armand Rousseau ở Đông Dương,   1894-1897): Lettres du Tonkin et de Madagascar (1894-1899), Paris 2ème ed. 1921.
(Trích từ: “CHỦ NGHĨA THỰC DÂN PHÁP Ở VIỆT NAM - Thực Chất Và Huyền Thoại
Tác giả: NGUYỄN VĂN TRUNG, nhà xuất bản Nam Sơn, ngày 28-11-1963, Sài Gòn, tr 108-117)