Hiển thị các bài đăng có nhãn việt nam máu lữa quê hương tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn việt nam máu lữa quê hương tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016


Vài cảm nghĩ khi đọc:
"VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI"
của Hoành Linh Đỗ Mậu

Hoàng Ngọc Hiển




LGT - Hồi ký chính trị Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi (VNMLQHT) của cựu tướng Đỗ Mậu, phát hành lần đầu vào năm 1986, đã là một hiện tượng văn học chính trị làm chấn động giới nghiên cứu lịch sử hiện đại của người Việt tị nạn lúc bấy giờ, và tạo ra một cuộc tranh luận chia đôi giới nghiên cứu người Việt tại hải ngoại (Thạch Đăng, tạp chí Đất Việt, Canada). Tác phẩm nhắm “bổ túc hồ sơ sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa”, lấy chế độ Ngô Đình Diệm (về mặt chính trị) và Giáo hội Công giáo Việt Nam (về mặt lịch sử) để làm hai đối tượng phân tích và phê phán. Cuốn sách dày 1,260 trang nầy “… đã có rất nhiều, quá nhiều là khác, thảo luận và bút chiến về tác phẩm, và nhiều khi, về từng chủ điểm mà tác phẩm này nêu lên. Cho đến thời điểm này, vẫn còn xuất hiện trên báo chí hải ngoại những bài viết đề cập đến tác phẩm hoặc tác giả. Đặc biệt đã có 13 cuốn sách của những người viết đứng từ những vị trí khác nhau, nhìn từ những góc độ khác nhau, và mang những tâm chất khác nhau, nhưng tất cả đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến tác phẩm hay tác giả.” (trích từ Lời Giới Thiệu Ấn bản thứ ba của Nhà Xuất bản Văn Nghệ, năm 1993).

Từ đó đến nay, tác phẩm này đã được tái bản một lần (1987) và in lại tám lần, tổng cọng gần 20 nghìn ấn bản. Bản in trên giấy cuối cùng (1993) của Nhà Xuất bản Văn Nghệ là lần biên tập thứ ba và là lần in lại thứ chín (Third Edition, Ninth Printing). Năm 2007, một nhóm thân hữu của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu đã hoàn thành một ấn bản điện tử, phổ biến rộng rãi trong không gian Internet với mục đích “… đóng góp phần mình vào việc thực hiện tâm nguyện của tác giả đã được trang trải đầy ắp trong tác phẩm nầy.” (trích từ Lời Giới Thiệu Ấn bản Điện tử 2007).
Hiện nay, theo ghi nhận của chúng tôi thì đã có 14 “diễn đàn điện tử” trong và ngoài nước phổ biến tác phẩm VNMLQHT. Để đọc toàn bộ tác phẩm, bạn đọc có thể vào các trang web sau đây: Sách Hiếm (Hoa Kỳ), Giao Điểm (Hoa Kỳ), Truyện.com  (Việt Nam) và Truyện.haohanca.com (Việt Nam).

Sau gần 20 năm thuộc loại best seller trong cộng đồng hải ngoại, với thời gian, cuốn sách cũng đã lui vào sau hậu trường chử nghĩa, chỉ còn giá trị tham chiếu cho những ai muốn tìm hiểu về nền Đệ Nhất Cộng Hòa mà thôi.
Thế là sau hàng trăm bài viết kéo dài trong 20 năm, có lẽ bài cuối cùng đề cập đến một cách quy mô tác phẩm VNMLQHT là một bài viết dài 6 trang chữ nhỏ, phổ biến vào tháng 6/2006 có tựa đề “Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc “Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi” Của Hoành Linh Đỗ Mậu” của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.

Đây là một bài “cảm nghĩ” đặc biệt vì được đăng trên một tờ báo chuyên đánh phá Phật giáo để bào chữa tội của ông Diệm, do một tác giả Công giáo chấp bút, nhưng lại để đề cao một số luận điểm của tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu và tác phẩm VNMLQHT. Thật vậy:

1- Bài nầy xuất hiện trên bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong (số 731, tháng 6/2006), một tạp chí từng bị ví von là “Tên lính xung kích của Cần Lao Công Giáo”, chuyên đăng bài bênh vực chế độ Diệm. Năm 1978, khi Thượng tọa Thích Thiện Minh bị chính quyền Cọng sản bức tử tại trại Hàm Tân, thế nhưng Văn Nghệ Tìền Phong lại chạy hàng tít lớn ở ngoài bìa: “Thích Thiện Minh Đền Tội” chỉ vì Thượng Tọa là một trong những nhà lãnh đạo phong trào đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải thực thi quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963. Và cũng chính báo nầy đã là nơi phát động cuộc xuyên tạc lịch sử vĩ đại nhất tại nước ngoài để lên án Phật giáo và Tướng lãnh VNCH làm “mất nước”, hầu trả thù cho ông Diệm như lời dặn của chính ông ta, đồng thời  để làm cái loa tuyên truyền cho cái gọi là “Phong trào Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm” ở hải ngoại. Dĩ nhiên, đây cũng là tờ báo làm diễn đàn để chống đối kịch liệt cuốn VNMLQHT của những cây viết “Cần Lao Công giáo” như Linh mục Vũ Đình Hoạt, Linh mục Cao Văn Luận, Tú Gàn, Lâm Lễ Trinh, Tú Rua, Đinh Từ Thức, Cao Thế Dung, Nguyễn Văn Chức, v.v… 


Hình bìa và Trang Mục Lục của tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong số 731 (từ ngày 1 đến 15-06-2006) – Trang 36 của Mục Lục ghi “36- Đọc sách: ‘VN máu lữa quê hương tôi’ H.N.Hiển” 

2- Tác giả bài viết là một tín hữu Công giáo, bút hiệu là Hoàng Ngọc Hiển (tên thật là Giuse Trần Ngọc Hiển) sinh năm 1942 và mất vào ngày 27-12-2014 tại Nam California. Trước 1975, ông là một giáo sư triết, văn chương và sử địa. Năm 1967, bị động viên (Khóa 25 Thủ Đức).  Rời quân trường, ông chọn  đại đội 399 tiểu khu Bình Long – đơn vị được xem là thiện chiến nhất và “dữ” nhất  của tiểu khu,  có mặt tại những hiểm địa tử thần như Lộc Ninh, An Lộc, Quốc lộ 13…. Về mặt văn chương, năm 1969, tạp chí Văn xuất bản truyện dài “Quê Hương Lưu đày” của ông. Sách bán hết sau hai tháng phát hành. Qua Mỹ, ông vẫn tiếp tục viết với 5 tác phẩm được xuất bản hay tự xuất bản. Đó là chưa kể hai tập truyện còn trong dạng bản thảo và một tác phẩm gồm 18 bài đọc sách chưa in. Sau 1975, ông bị tù 14 năm 7 tháng và qua Mỹ vào cuối năm 1990.

Tác giả Hoàng Ngọc Hiển và trang 36 của tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong số 731 với tựa đề bài viết: “Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc“Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi” Của Hoành Linh Đỗ Mậu”

3- Ai đã đọc thì đều biết Sử quan làm nền cho nội dung của tác phẩm VNMLQHT là “Hễ đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc” (Lời Mở Đầu của VNMLQHT), và cựu tướng Hoành Linh Đỗ Mậu đã lấy hai đối tượng là Chế độ Ngô Đình Diệm và Lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam để qua đó, chứng minh Sử quan của mình là đúng đắn. Thế nhưng trong toàn bộ bài viết, tác giả Hoàng Ngọc Hiển lại không đề cập gì đến hai đối tượng đó cả. Ngược lại, nhà văn Hoàng Ngọc Hiển đã chọn một cách tiếp cận khác. Độc đáo hơn và có tính thuyết phục hơn: Đó là phân tích cái Tâm và cái Tầm của tác giả Đỗ Mậu để gián tiếp đánh giá tác phẩm.
Bài viết xuất hiện muộn màng đến 20 năm sau khi VNMLQHT ra đời, nên tác giả có được sự chính chắn khi đọc tác phẩm, nhất là có độ lùi thời gian để đối chiếu với hiện thực lịch sử. Do đó mà bài viết thâm trầm, khách quan và quân bằng hơn, đứng ngoài những cuộc bút chiến nãy lửa của hai phe thân-Diệm và chống-Diệm. Từ đó, chính cái Tâm nguyện và cái Tầm nhìn của cựu tướng Đỗ Mậu mà ông chia sẽ gần như trọn vẹn, đã là niềm tâm đắc để tác giả Hoàng Ngọc Hiển “cảm nghỉ” về thân phận quê hương và về tương lai Việt Nam.

Đồng cảm với những “cảm nghĩ” của hai tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu và Hoàng Ngọc Hiển, chúng tôi xin đánh máy và số hóa nguyên văn bài viết để phổ biến như một chứng liệu đáng ghi nhớ – NamGiao (11/2016)
*       *
*
Vài cảm nghĩ khi đọc:
"VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI"
của Hoành Linh Đỗ Mậu

[Trích từ Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong số 731 (6/2006),
từ trang 36 đến 38, và 76 đến 78]

"Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của Hoành Linh Đỗ Mậu, ấn bàn thứ ba của NXB Văn Nghệ, 1993, là một ấn bản đẹp hơn hai lần trước kia. Đối với riêng tôi, một người đọc sách, cuốn hồi ký chính trị này là một cuốn sách rất đẹp, về phương diện hình thức, "là một tải liệu lịch sử quý giá cho kho tàng văn học sử Việt Nam" như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã đánh giá. Tôi cũng rất đồng ý với Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, đánh giá cuốn sách là "sự phân tích các chứng liệu thật rành mạch và sâu sắc dưới một nhãn quan sáng suốt và thấu đáo, một óc phê phán công bằng và can đảm". Quả nhiên, tác phẩm là "một bản án lịch sử" như nhà luật gia Nguyễn Văn Lượng, cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Chính Phủ Ngô Đình Diệm, 1963, đã nói. (Trích vài ý kiến của người đọc ... ở trang bìa sau của cuốn sách).

Tôi cho rằng tác phẩm này không phải là cuốn sách chỉ đọc một lần mà thôi, mà nó là cuốn sách để đọc nhiều lần, đọc đi đọc lại, mỗi lần có thể đọc một chương, dừng lại suy nghĩ ... sẽ có lúc xót xa cho dân tộc, có lúc phẫn uất với cái ác, có lúc cay đắng...và từ đó có thể rút ra cho mình một bài học lịch sử nào đó, nó sẽ rất hữu ích cho những ai muốn dấn thân vào lịch sử. Mới đọc "Lời Mở đầu" của cuốn sách, tôi đã cảm nhận ngay cái tâm của tác giả:
"Tất cả, từ những người có lòng nhất đến những người tài ba đảm lược nhất đều đã thất bại, dù trong cuộc hành trình hùng tráng và bi thiết này, không biết bao nhiêu người đã hy sinh gục ngã... Những nguyên nhân này được cố gắng trang trải như một bài học lịch sử để từ đó và do đó , hy vọng những lớp người đang đi tới sẽ tránh được những vết xe đổ đã nghiền nát bao nhiêu trang sử hiện đại của dân tộc," (Sách đã dẫn, Lời mở đầu, không đánh số trang).

Chúng tôi muốn ghi lại trong bài viết này một vài cảm nghĩ của chúng tôi thôi, với tư cách của một người đọc sách. Cho nên, đây không phải là một bài phê bình, một bài điểm sách với những tính chất cần có của một bài phê bình, một bài điểm sách. Cuốn sách này dầy trên ngàn trang, nội dung phong phú, tài liệu phức tạp... cũng là một lý do làm chúng tôi không dám có tham vọng viết phê bình, điểm sách. Một lần nữa xin thưa trước, đây chỉ là vài cảm nghĩ có tính chất riêng của một người đọc sách, không hơn không kém. Hơn nữa, người đọc sách là chúng tôi đây, đối với tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu, chỉ là một kẻ hậu sinh. Bởi vì năm 1942, khi ông Đỗ Mậu là huấn luyện viên lớp hạ sĩ quan tại Huế, ông vừa đúng 25 tuổi, thì tôi mới mở mắt chào đời. Đến năm tôi được 25 tuổi (1967) tôi bước chân vào khoá 25 quân trường Thủ Đức, thì ông Đỗ Mậu đã là một nhân vật lãnh đạo trong nền Đệ Nhị Cộng Hoà của Miền Nam rồi. Năm 1963, khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, tôi đang ngồi ở giảng đường trường Luật năm thứ nhất, chưa có được suy nghĩ chính chắn về thời cuộc. Tôi hãy còn hời hợt lắm về tất cả những vấn đề của đất nước, có lẽ kể cả lịch sử của dân tộc trong quá khứ bởi tôi chỉ có một mớ bài học tổng quát từ sách vở, chưa thực hiện một cuộc nghiên cứu lịch sử nào tới nơi tới chốn.

Tôi xin thú thật rằng  phải đến năm 1967, khi tôi cầm lệnh trình diện thụ huấn khoá 25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức trong tay, tôi báo cho mẹ tôi biết, bà có vài lời nói với tôi, rồi kể từ lúc ấy, tôi mới bắt đầu có những suy nghĩ cẩn thận về Độc Lập, Chủ nghĩa Thực Dân, Cộng Sản, cuộc chiến đấu bảo vệ Miền Nam... Tôi vẫn còn nhớ, mẹ tôi đã nói với tôi rằng: "Phải, đất nước có chiến tranh, mà chiến tranh có từ trước khi anh ra đời, anh đang sống ở Miền Nam. Đó là lẽ tự nhiên, bởi giặc đến nhà đàn bà còn phải đánh mà. Anh hãy vui vẻ lên đường làm tròn trách nhiệm của anh đối với đất nước." (Mẹ tôi thường gọi tôi là anh, có lẽ vì tôi là con trưởng). Tôi không ngờ mẹ tôi lại dậy tôi như thế. Hai mươi lăm tuổi đầu rồi, mà chẳng hiểu biết tí gì về chính trị cả, có đáng xấu hổ không?!

Vừa ra trường, đến trình diện Trung tá Lộ Công Danh, Tiểu khu Trưởng Tiểu khu Bình Long, tôi đụng ngay trận Tổng Công Kích năm Mậu Thân 1968 của Việt Cộng. Tôi nghĩ định mệnh đã đưa đẩy ném tôi vào những chuyển mình lớn lao của đất nước rồi - như bao nhiêu người trai trẻ khác của thế hệ - mình đang bị đặt tính mạng trước cái chết. Liệu một cái chết về quê hương của mình có một ý nghĩa nào không? Đó là câu hỏi đầu tiên tôi đặt ra cho tôi và cố gắng để đi tìm câu trả lời. Nhưng tôi đã không trả lời nổi. Tôi biết tôi mù tịt về chính trị nên không trả lời nổi. Tôi chỉ còn biết nhắm mắt cầm súng chiến đấu, còn ngoài ra không biết gì hết.

Đó là thực tế trước mắt. Tôi nghĩ bao nhiêu người trai như tôi cũng đang phải cầm súng chiến đấu như tôi thôi. Tôi đi từ Trung Đội Trưởng tới Đại Đội phó, rồi Xử Lý Thường Vụ Đại Đội Trưởng, rồi được thuyên chuyển về làm Sĩ Quan Tham Mưu Phòng 3 Tiểu khu Bình Long. Than ơi, càng tìm hiểu, tôi càng cảm nhận dấu hiệu thất bại của quân lực Việt Nam Cộng Hoà, nhất là sau khi Hoa Kỳ có chủ trương Việt Nam hoá chiến tranh. Sư đoàn 1 Không kỵ của Mỹ ở Bình Long rút dần, trao lại vùng hoạt động cho Tiểu khu. Thế là phạm vi trách nhiệm của Tiểu khu cứ mở rộng dần ra, súng đạn giảm đi, các phương tiện khác cũng hạn chế... Tôi đã cảm nhận Miền Nam sụp đổ là điều khó tránh, nhưng tôi không trả lời được "nguyên nhân lớn nhất, thực nhất" dẫn tới thất bại là gì?! Cho tới nay, 2005, 30 năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, tôi đọc và suy gẫm cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của Hoành Linh Đỗ Mậu, tôi cảm nhận được câu hỏi đó. Cho nên đối với tôi, ông Đỗ Mậu là người đi trước, là tiền bối, và tôi đã là kẻ hậu sinh đọc sách của ông. Tôi có những cảm nghĩ gì đây? [Toàn bộ cuốn sách ở đây (giaodiemonline) và ở đây (sachhiem) cho độc giả ngoài nước, hay ở đây (xemtailieu) và ở đây (tusach.mobi) cho độc giả trong nước - NG]

I/ Từ hiểu biết về Quảng Bình, tôi cảm nghĩ về quê hương Việt Nam:

Quảng Bình là quê hương của ông Đỗ Mậu. Tác giả viết về đất Quảng Bình của ông:
"... Bình Trị Thiên là ba tỉnh nằm giữa hai ngọn đèo lớn đó của miền Trung, vì quen nhọc nhằn chống lại thiên nhiên hà khắc, lại vốn làm cái đòn gánh chính trị oằn vai vì sức nặng cách mạng của bốn tỉnh tiếp giáp nên cũng đã cưu mang trong sức sống tất cả cái hào hùng và oan nghiệt của lịch sử. Tỉnh Quảng Bình, tuy là một tỉnh nhỏ về cả hai phương diện dân số lẫn diện tích, nhưng nhờ vậy lại chiếm địa vị của một vùng đất quê hương nổi tiếng địa linh nhân kiệt.
Từ đời Hùng Vương, Quảng Bình đã là một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang, có tên là Việt Thường với Thủ đô là Phong Châu. Vì là tỉnh cực nam tiếp giáp với biên giới Chiêm Thành nên suốt một thời gian dài trong quá trình dựng nước và mở nước, Quảng Bình đã là chiến địa khốc liệt và dai dẳng, lắm phen thay ngôi đổi chủ giữa hai dân tộc Chiêm - Việt, cho đến năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông xuất quân đánh Chiêm Thành bắt được vua Chế Củ và sát nhập ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính thì Quảng Bình (và phần đất phía Bắc tỉnh Quảng Trị) mới hoàn toàn thuộc về lãnh thổ nước Việt Nam và thuộc về chủ quyền dân tộc Việt Nam cho đến bây giờ. Tuy là một tỉnh nhỏ, dù bề dài 110 cây số, nhưng bề ngang chỗ hẹp nhất, chỉ vào khoảng 45 cây số, quanh năm ách nước tai trời, lưng dựa vào Trường Sơn huyền bí, mặt nhìn về biển Đông thét gào, đất cầy lên không sỏi thì đá, nhưng tạo hoá lại đền bù cho Quảng Bình nhiều danh lam thắng cảnh để tô điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú mà nhiều tỉnh khác không có. Luỹ Thầy, Đèo Ngang, sông Linh Giang, động Phong Nha ... không những là kỳ tích của thiên nhiên mà còn là những địa danh ghi đậm những biến cố hào hùng trong lịch sử nước nhà", ( sđd, trang 1,2)

Sau khi viết về quê hương Quảng Bình, tác giả Đỗ Mậu viết:
"Trong khung cảnh đất nước lúc bấy giờ, và thể hiện rõ ràng trong đời sống ở thôn quên cũng như thị thành, ở trong chính quyền cũng như ở ngoài quần chúng, ba luồng ý thức đối nghịch nhau như nước với lửa, như đêm với ngày, chi phối toàn bộ quốc gia Việt Nam là ý thức dân tộc nhân bản của nền Tam Giáo, ý thức độc thần của Kitô Giáo và ý thức duy vật của chủ nghĩa Mác Lê" , (sđd, trang 12) . Thế rồi: "... định mệnh trớ trêu đưa đẩy dòng lịch sử của dân tộc đến một giai đoạn tranh chấp giữa ba xu hướng từ tầng chính trị bước lên kích thước văn hoá trong suốt những năm dao động của hai thập niên 50 và 60. Ba xu hướng này va chạm vào nhau và nổ bùng thành những cơn lốc chính trị và được lãnh đạo bởi ba nhân vật cùng một quê quán Quảng Bình.  Đó là ông Võ Nguyên Giáp quê làng An Xá, ông Ngô Đình Diệm quê làng Đại Phong và Thượng Toạ Thích Trí Quang quê làng Diên Điền".(sđd, trang 14) Ba ông này “đã trở nên những nhân vật lẫy lừng làm chao nghiêng lịch sử và làm sụt sùi dân tộc" (sđd, trang 15) 

Tôi suy nghĩ gì đây? Rõ ràng cuộc phân đôi đất nước Việt Nam và cuộc đối đầu Bắc Nam là cuộc tranh chấp ý thức hệ mà một bên là ý thức Mác Lê duy vật, và một bên là ý thức Ki Tô Giáo độc thần. Ý thức hệ dân tộc nhân bản của nền Tam Giáo đã bị thời cuộc đẩy lui vào bóng tối. Tôi cho rằng ý thức hệ dân tộc nhân bản này là đặc tình căn bản của dân tộc Việt Nam đã hình thành và plát triển từ ngày lập quốc . Nó đã thấm vào tâm hồn, vào da thịt người Việt Nam. Nó đã chuyển thành hơi thở, thành sức sống của dân tộc Việt Nam, nó đã gắn liền, dính chặt vào, không thể thiếu được nữa tựa như một sự kết hợp tuyệt diệu giữa linh hồn, và thể xác. Nó vẫn sống, lúc nào nó cũng vẫn sống, khi mạnh mẽ, khi tiềm tàng, tuỳ theo thời cuộc biến đối mà thôi. Sở dĩ vừa qua, nó bị đẩy vào trong bóng tối, bởi vì hai ý thức hệ kia tựa như hai ngọn sóng thần từ Tây phương tràn tới Đông phương. Vì chúng là sóng thần, quá mạnh mẽ...nên đã có một sức mạnh ghê gớm, khủng khiếp tàn phá vùng đất này, tưởng như muốn quél sạch hết tất cả, cuốn theo cơn sóng thần đó khi nó rút đi !!!

Trước sức mạnh ấy, dĩ nhiên ý thức dân tộc nhân bản của nền Tam Giáo phải bị đẩy lui vào bóng đêm tăm tối. Nhưng nó không thể chết, không bao giờ chết được, nó vẫn sống trong âm thầm, nhưng mãnh liệt. Ý thức ấy sẽ hồi phục như một lẽ đương nhiên. Tựa như một người bệnh, sau khi những gì không thuộc về con người bị đẩy ra khỏi, người bệnh đó sẽ mạnh mẽ trở lại. Ý thức Ki Tô Giáo độc thần đã tắt dần, tàn lụi dần cùng với sự sụp đổ hoàn toàn của Miền Nam Việt Nam vào năm 1975. Ý thức Mác Lê duy vật mà Hà Nội tiếp tục khoa trương trong cố gắng phát triển, cuối cùng cũng bắt đầu tắt dần, tàn lụi vào cuối thập niên 80, khi mà chủ nghĩa Cộng Sản, tại chính quốc Liên Xô và ở Đông Âu hoàn toàn sụp đổ. Bước sang đầu thế kỷ 21, Hà Nội rơi vào tình trạng níu giữ ý thức Mác Lê với nỗi lo sợ ý thức này tan vỡ hoàn toàn. Từ đầu năm 2005, những phong trào tìm về tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh ... Phải chăng đó là những dấu hiệu của ý thức nhân bản dân tộc bắt  đầu thoát ra khỏi bóng tối? Đây là giao điểm. Đây là dấu hiệu thay đổi, càng trở nên rõ rệt , ý thức nhân bản sống dậy thay thế ý thức Mác Lê duy vật. Buổi bình minh của dân tộc Việt nam đã có dấu hiệu, ắt buổi bình minh ấy sẽ đến, chỉ chậm hay nhanh mà thôi !!!

Trước đây, năm 1963, Thượng Toạ Thích Trí Quang đã có tham vọng thực hiện một cuộc Tổng Hợp Đề Văn Hoá để hoà giải dân tộc, nhưng bất thành. " ... Có ai ngờ một chú sa di đầu tròn áo vuông lại trở nên linh hồn của một phong trào tôn giáo quần chúng lớn "làm rung chuyển nước Mỹ" với tham vọng thực hiện cuộc Tổng Hợp Đề Văn Hoá để hoà giải dân tộc ..." (sđd, trang 15). Tôi nghĩ chuyện Thượng Toạ Thích Trí Quang bất thành trong cố gắng trên là lẽ đương nhiên, vì lúc ấy, hai ý thức kia đang lớn mạnh, đang tiến, đang thịnh. Đọc "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của Đỗ Mậu, tôi càng nhận rõ ra điều đó.

Trở lại với Quảng Bình của tác giả, ông viết:
"Sống giữa thời ly loạn, mà cha chú, bà con phần đông bị giặc Pháp cầm tù hay sát hại, nhà nước thì mất chủ quyền, cha tôi, một nho sĩ nghèo nàn chỉ còn biết kéo dài cuộc đời bất đắc chí. Tôi ra đời giữa khung cảnh đất nước đó, trong một gia cảnh thanh bần, và giữa một làng quê bùn lầy nước đọng". (sđd, trang 23). Và ông viết: "Chính những ân tình của xóm làng gia tộc đã dạy cho tôi về nhân nghĩa, về lòng độ lượng, và bao dung. Cho nên những thực tại đó của đời, những kinh nghiệm sống thật đó của bản thân, hơn tất cả những bài học ở trường, hơn những sách vở mà tôi đã nghiên cứu, mới là hành trang quý giá và thân thương  nhất giúp tôi xông pha vào đời với một lương tâm trong suốt và với một con tim tràn đầy nhiệt huyết" . (sđd, trang 25)

Tôi có cảm nghĩ rằng ông Đỗ Mậu đang nói về Quảng Bình của ông, nhưng có rất nhiều tính chất là những tính chất chung của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chẳng hạn như những ân tình của xóm làng gia tộc đã dạy cho ông về nhân nghĩa, độ lượng , bao dung, thì những đặc tính ấy đều là những đặc tính chung của tất cả mọi gia tộc, mọi làng xóm Việt Nam trên khắp nước. Chẳng hạn nữa, như nơi nào cũng sản sinh ra những anh tài, nhân kiệt, tuỳ theo từng thời mà phát ra. Và khắp nước Việt Nam hầu như nơi nào cũng có những danh lam thắng cảnh riêng của nơi ấy để tô điểm cho thêm thanh kỳ, mỹ tú, chứ không phải "nhiều tỉnh khác không có" (sđd, trang 2) như ông Đỗ Mậu đã viết. Dĩ nhiên, viết về vùng đất Quảng Bình của ông, ông không thể tránh khỏi chủ quan, cũng là lẽ thường tình. Ông viết: "Tôi vẫn hoài niệm về làng Thổ Ngoạ tiêu điều đó như là những năng lực tuyệt vời giúp tôi thoát lên trên mọi giông bão" (sđd, trang 25)

Bây giờ hàng triệu người Việt Nam sống ở xứ người, lưu lạc khắp bốn phương trời, vẫn hoài niệm về chốn làng quê nghèo nàn của mình ở trên giải đất Việt Nam hình chữ S, có rặng Trường Sơn hùng vĩ, Cứu Long giang uốn khúc như rồng, và biết bao núi non, sông dài thơ mộng ... nơi đó là những làng mạc, đồng ruộng thanh bình thuở ngàn xưa, đã bị cơn sóng thần từ Tây phương tràn tới gây đổ vỡ tan hoang ... Nhưng tinh thần dân tộc nhân bản, cụ thể là nhân nghĩa, độ lượng, bao dung vẫn sống, sống âm thầm, sống trong đêm tối để chờ giờ phút trồi lên trong một buổi bình minh nào đó sẽ đến, phải đến, tựa như một quy luật tự nhiên, hễ cái gì có cực thịnh, ắt phải có cực suy, cái gì cực suy ắt sẽ từ từ hồi sinh, phục dậy. Đó là luật phản phục. Tôi kẻ tha phương cầu thực, nhiều lúc cảm thấy nhục nhã và cô đơn nơi xứ người, vẫn hoài niệm về quê hương :"Ta về về ta tắm ao ta. Dầu trong dầu đục ao nhà vẫn hơn". Không có ở đâu đẹp bằng quê hương của mình. 

II/ Cảm nghĩ đến từ những nhân vật đã làm cho thế giới khâm phục:

Trong sách ông Đỗ Mậu trình bầy về việc anh em ông Diệm lợi dụng quyền hành trong tay, xử dụng những phương pháp vô luân và phi pháp để làm giầu riêng. Ông Đỗ Mậu dẫn chứng từ "Bức thư ngỏ gởi ông Hứa Hoành" của ông Trần Ngọc Lý đăng trên tờ Tia Sáng, Houston, số 22 tháng 10 - 1987. Bức thư chỉ trích Tổng Thống Diệm đã dĩ công vi tư, lấy tiền quốc gia giúp Giám Mục Ngô Đình Thục xây cất những cơ sở cho Giáo Hội Thiên Chúa giáo tại Vĩnh Long. Tác giả cho biết ông Diệm có mỗi năm 98 triệu mật phí chính trị, ông còn nhận được một số lợi tức do hãng tôm Long Hải cung cấp.  Hãng tôm Long Hải này do Nguyễn Văn Bửu, một người bà con của ông ở Phú Cam làm quản lý ...

Sau đó tác giả viết:
"Đáng tiếc, và đáng trách vì ông Diệm đã không noi gương kim cổ, để bắt chước phong thái những vị nguyên thủ đồng thời với ông ta, những nhân vật đã làm cho thế giới khâm phục như Thủ Tướng MacMillan nước Anh, Thủ Tướng U Nu nước Miến Điện chẳng hạn.
Thủ Tướng MacMillan, người đệ tử trung kiên của "sư tử Churchill", sau khi thôi làm Thủ Tướng về nhà sống cuộc đời thanh bạch. Ông di chuyển bằng xe buýt, chen chúc giữa đám thường dân, cũng làm đuôi để đổi xe buýt nơi góc đường, đầu phố. Còn Thủ Tướng U Nu vốn là một Phật tử thuần thành và tự biết mình quá ôn hoà, không lãnh đạo được quốc gia trước hiểm hoạ Cộng Sản Miến cho nên tháng 9 năm 1959 ông nhượng chức lại cho Tướng Nê Win để ông này có thể thực hiện được một chánh sách chống Cộng hữu hiệu hơn. Thủ Tướng U Nu khi vào dinh Độc Lập (Miến) chỉ mang theo một chiếc va li mây với mấy bộ quần áo cũ và đôi giầy bố; khi ra về gia tài của ông cũng chỉ đôi giầy vải bố với chiếc va li mây.  Từ chức Thủ Tướng về nhà, ông lại đeo đuổi việc tu hành, sớm hôm vui với câu kinh tiếng kệ. Thái độ nhà lãnh đạo như thế chả trách Miến Điện, dù là một tiểu quốc cô lập giữa vùng rừng núi cao nguyên, lại sát Trung Cộng, đã dám chống lại Mao Trạch Đông và chiến thắng Cộng Sản Miến và vẫn giữ vững nền độc lập và trung lập từ sau đệ nhị thế chiến cho đến ngày nay" (sđd, trang 442, 443)

Tác giả còn nhắc đến Lý Thừa Vãn chịu trách nhiệm trước đồng bào về việc bà con tay chân của ông tham nhũng, rồi xin từ chức ngay và xin đi xuất ngoại để yên lòng dân. Sau mấy năm lưu vong ông lại được dân Đại Hàn mời trở về quê cũ. Ông Đỗ Mậu tỏ ý tiếc cho ông Diệm không chịu nhìn những gương trong sáng đó, "không biết được những thăng trầm tất yếu của kiếp nhân sinh, mà phú  quý lợi danh có khác nào Mây trôi Nước chẩy. Huống chi được xây dựng bằng con đường bất lương, phi nghĩa, xây dựng trên xương máu, trên xác chết của bao nhiêu người thì làm sao tồn tại vững bền cho được. Nó tụ càng nhiều nó phải tan càng mau như nước thuỷ triều sáng lên là chiều phải xuống". (sđd, trang 444)

Đọc đoạn văn này - mà tư tưởng phản ảnh ý thức dân tộc nhân bản, mang mầu sắc triết lý về cõi nhân sinh đã thấm nhuần vào làng mạc, đồng ruộng, núi đồi, biển trời đất nước ta - tôi không tránh khỏi ngừng lại suy nghĩ mông lung về thân phận con người và của cải vật chất thế gian. Than ơi, đến cái thân xác của ta, thiết nghĩ là quý nhất, nó dính liền với ta, mà rồi nhiều lắm 100 năm cũng phải chết, cũng phải bỏ linh hồn ta mà tàn lụi trong hư nát, huống chi là "ngoại thân", cái ở ngoài ta? Quả nhiên, ông Đỗ Mậu viết:"phú quý lợi danh có khác nào Mây trôi Nước chảy", có khác nào ông đã nhắc nhở  mọi người nhớ lại cái chân lý ấy, cái chân lý bất di bất dịch ấy, mà cố nhân chúng ta đã dùng nó như một nguyên lý xử thế? Nó đã không còn là một tư tưởng triết học mơ hồ, hoang tưởng, mà nó đã thấm sâu vào lòng người Việt Nam, tiếp nối từ đời này qua đời khác...Nó âm ỉ sống trong lòng người, chỉ cần hướng nội là gặp được nó ngay. Chỉ một phút lơi là, hướng ngoại, là cái chân lý ấy xa dần ta, để ta bị lôi cuốn vào văn minh vật chất thời thượng bên ngoài, mà quên đi những hệ luận của nó là nhân nghĩa, bao dung, độ lượng?! Đó là đặc tính của truyền thống của dân tộc ta. Nhưng trong nhiều thế kỷ qua, những cơn sóng thần ở bên ngoài tràn tới, phủ lấp gây ra biết bao nhiêu đổ vỡ, tang thương tứ tán cho dân tộc? Thật là xót xa quá!!!

Tôi nghĩ dẫu ta xa quê hương, lăn lộn kiếm sống ở xứ người, nhưng nỗi hoài nhớ quê hương vẫn khắc khoải trong lòng, hễ bất chợt lúc nào dừng lại, hướng nội, ắt ta lại gặp được hình bóng của quê xưa. Phải chăng đó là hồn dân tộc, hồn Việt? Cho nên hễ ta giữ được tinh thần ấy trong ta, ắt không khi nào ta xa rời dân tộc, không bao giờ ta phản bội dân tộc. Nhưng nếu ta lơ là, hướng ngoại, vọng ngoại, ắt dẫn đến  phi dân tộc. Chỉ cần một sự sơ sểnh, con người ta đi đến chỗ phi dân tộc lúc nào không hay!!! Cho vậy, tôi nghĩ người Việt muốn gìn giữ được hồn Việt trong ta, thì ta phải gìn giữ những đặc tính dân tộc (nhân nghĩa, bao dung, độ lượng) như giữ gìn con ngươi của mắt mình! Những người lãnh đạo đất nước  đánh mất những đức tính ấy...phải chăng là quên dân tộc, phi dân tộc ắt dẫn đến phản bội dân tộc, như tác giả Đỗ Mậu đã viết cuốn:"Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" để chứng minh điều đó? Tác giả đã suy nghiệm, đã nhận rõ mặt "Hễ đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc" (sđd, trong lời nói đầu), để rồi dẫn đến kết luận:"Tất cả đã không có căn bản dân tộc nên đã làm khổ đau dân tộc", (sđd, trong lời mở đầu). Đọc cuốn sách, tôi cảm nhận quy luật lịch sử ấy mênh mông trên từng trang sách.

Trở lại với những nhân vật đã làm cho thế giới khâm phục, như Mac Millan; U Nu ... tôi nghĩ nếu Việt Nam chúng ta, trong giai đoạn 1954 - 1975, có được một nhân vật lãnh đạo giống như thế, thì hẳn Việt Nam đã có một cuộc diện khác hẳn như nó đã và đang xẩy ra, người Việt chúng ta đã không phải lang thang trên đất khách. Thời xưa, với tinh thần "Dân vi quý, Quân vi khinh", người làm vua chúa, công hầu danh tướng bao giờ cũng phải khổ trước cái khổ của dân, đói trước cái đói của dân, vui sau cái vui của dân. Vua tôn trọng ý dân -  coi ý dân như ý Trời. Đọc đoạn văn này, tôi trổi dậy ước mơ người Việt bây giờ và mai sau"rút được từ lời kể chuyện mộc mạc và tâm tình  chân thật này", (sđd, trang 850) những suy tư ích quốc lợi dân thì phúc cho quê hương Việt Nam chúng ta biết mấy!!!

Tôi quay nhìn về Đông phương...Tôi có thể thấy gi ở Đông phương? Tác giả Đỗ Mậu đã vạch ra cho tôi thấy rõ:
"Quay lại nhìn về Đông phương, ta thấy không thiếu những nhà lãnh đạo tài ba được ngưỡng mộ như thần thánh và có điều kiện để trở thành độc tôn trong một xã hội còn chậm tiến và thần quyền mà vẫn khiêm tốn và trách nhiệm nhìn thấy vị trí của mình trong những bước tiến thoái của cuộc đời. Một U Nu của Miến Điện, một Shigeru Yoshida của Nhật Bản, một Phác Chánh Hy của Đại Hàn, một Gandhi của Ấn Độ ... Những người đó dù thất bại hay thành công, dù chết êm ấm hay chết bất đắc kỳ tử, đều để lại trong lòng dân tộc họ nỗi thương tiếc và niềm kiêu hãnh vĩ đại, cũng như đã được an vị hùng tráng trên bia đá lịch sử của tổ quốc họ.
Cũng nhìn về phương Đông và thân thiết hơn trong lịch sử nước ta, một Lý Thánh Tôn yêu dân như yêu con, một Lý Anh Tông đã biết "Tu thân là thận trọng ở bề trong như dẫm trên băng mỏng, an dân là kính trọng kẻ dưới hãi hùng như cưỡi ngựa nắm dây cương mục" , một Trần Thái Tông "từ bỏ ngai vàng như từ bỏ một đôi giầy rách" và "lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình", một Trần Nhân Tông lập chí rằng "trong nhân gian vẫn còn người đói khổ thì trẫm không được yên lòng"...(sđd, trang 847)

III/ Cảm nghĩ đến từ những tâm tư của tác giả Đỗ Mậu

Ông Đỗ Mậu viết "Việt Nam máu lửa quê hương tôi" với mục đích cao nhất của tác giả là nói lên sự thật, "những Sự Thật đã vì hiện trạng tế nhị của đất nước mà các nhân chứng chưa nói ra, hoặc những sự thật mà vì cố chấp hẹp hòi sợ hãi, đã bị một số người trình bày một cách sai lạc hoặc nhiều khi cố tình xuyên tạc " (sđd, trang 831).
Sau đó ở chương XX, kết luận, tác giả tâm tình:
"Không những không cố chấp làm một thứ hủ nho hẹp hòi và bị trói chặt trong sự khiêm nhường vô trách nhiệm, tôi còn tự thấy có nhiệm vụ, có bổn phận phải trang trải ra trong lời kết luận này những tâm tư của mình. Những tâm tư của kẻ mà cuối cuộc đời, nhìn lại quá trình hoạt động chỉ thấy thất bại này chồng chất lên thất bại khác: 30 năm chống Cộng để cuối cùng phải chạy trốn nạn Cộng Sản, xả thân cho một lãnh tụ để cuối cùng thấy lãnh tụ đi vào con đường phản quốc hại dân.
Ngày xưa, cụ Phan Bội Châu đã viết hai tập Tự Phán và Ngục Trung Thư để suy ngẫm về những thất bại của mình và trao truyền bài học cho tương lai. Hôm nay tôi viết cuốn hồi ký này là chỉ để theo bước chân của nhà Cách mạng Tiền bối đó, vụng về bắt chước gương của người xưa mà thôi". (sđd, trang 832)

Quả nhiên, tâm sự của tác giả là cay đắng: 30 năm chống Cộng để cuối cùng phải trốn chạy Cộng Sản, xả thân cho một lãnh tụ để cuối cùng thấy lãnh tụ đi vào con đường phản quốc hại dân, thất bại này chồng chất lên thất bại khác!!! Cay đắng là phải lắm, là lẽ đương nhiên vậy!!! Nhưng tôi nghĩ dẫu sao ông Đỗ Mậu cũng còn một thời có quyền hành, lên xe xuống ngựa, có danh có lợi, và cuối cùng khi Hà Nội chiếm trọn Miền Nam Việt Nam, ông và gia đình ông đả thoát được ra nước ngoài, có những điều kiện sống mới, được sống trong bầu không khí tự do. Ông không bị trình diện Cộng Sản để được đưa vào trại tập trung cải tạo để học tập chính trị, lao động cưỡng bách ngoài rừng....mặc đầu ông cho rằng bỏ nước ra đi cũng là kẻ đầu hàng như tướng Dương Văn Minh: "Nói cho cùng thì có phải chỉ có một mình Dương Văn Minh đầu hàng đâu, những kẻ bỏ nước ra đi trước hay sau ngày 30 tháng 4 cũng là những kẻ đầu hàng" (sđd, trang 814).

Biết bao nhiêu dân Miền Nam đã hy sinh cả bản thân và gia đình mình để bảo vệ miền Nam! Thử hỏi xem họ có được hưởng gì? Họ chính là những kẻ nhận lãnh hậu quả bi thảm nhất của chế độ, của cuộc chiến, của những ngọn gió phũ phàng của thời đại quét qua đất nước Việt ta! Họ là những kẻ phải đổ mồ hôi và xương máu nhiều hơn cả. Thế thì họ, họ sẽ cay đắng biết bao nhiêu khi họ xả thân cho một chế độ - trong đó có những lãnh tụ bao gồm chính ông Đỗ Mậu - để rồi cuối cùng thấy quý vị đi vào con đường phản quốc hại dân? Và thấy quý vị bỏ rơi họ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến? Các vị đã nói dối họ. Các vị đã âm thầm lặng lẽ cùng vợ con lên tầu, bỏ nước, ra đi để mặc cho đất nước muốn ra sao thì ra, để mặc họ sống chết cách nào không cần biết?!
Họ, trước đây, trong cả một thời gian dài, đã cầm súng bảo vệ đất nước, bảo vệ chức quyền và tài sản của các vị, luôn cả bảo vệ gia đình các vị?! Tâm sự của họ và thân nhân của họ mới cay đắng đến thế nào? Còn biết bao nhiêu người xả thân, đem cái chết của họ để giữ cho Miền Nam được đứng vững cho đến ngày 30.4.75? Giờ đây liệu trong các mồ chôn, họ có ẩn ức? Phải chăng ta không  được phép quên họ  - vì họ đã hy sinh cho ta được sống - ta phải chịu ơn họ?! Nhưng tác giả Đỗ Mậu lại viết: "... Miền Nam thất bại là vì tất cả chúng ta chứ không vì ai hết!” (sđd, trang 815).

Không! Không phải thế! Không thể vì tất cả được!!! Phải có người chịu trách nhiệm chứ? Ai đây, nếu không phải là những nhà lãnh đạo đất nước? Lịch sử rồi đây sẽ làm sáng tỏ điểm này. Ai sẽ là người chịu trách nhiệm trước lịch sử trong việc để miền Nam Việt Nam thất bại?! Phải chăng, cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" của ông Đỗ Mậu, đã đưa ra những sự thật, đã là một sử liệu giúp cho lịch sử tìm ra kẻ chịu trách nhiệm? Vậy sao lại viết "vì tất cả chúng ta" ở phần kết luận? Không, Không thế!!! Chính tác giả đã viết ở đoạn kế tiếp: "thu quyền lực về một nhóm bè đảng ở dinh Độc Lập thì hỏi làm sao toàn dân đoàn kết để bây giờ bắt toàn dân chia sẻ trách nhiệm thất trận đó được" (sđd, trang 815) Phải chăng tác giả mâu thuẫn? Vậy nên câu: "Miền Nam thất bại là vì tất cả chúng ta chứ không phải vì ai hết!" cần được xét lại một cách nghiêm chỉnh.  Đó là suy nghĩ của tôi về tư tưởng "thất bại" của tác giả Đỗ Mậu

Mặt khác, tác giả viết: "Phần cuối cùng của chương Thay Lời Kết Luận này xin được dùng để trang trải lời tâm sự nhỏ với thế hệ tương lai của dân tộc, đang ở trong nước hay ngoài nước, đang ở bên này hay bên kia của những chiến tuyến chính trị và văn hoá" (sđd, trang 848, 849) Vậy thì những tâm sự nhỏ ấy là gì? Và tôi, người đọc sách, cũng có cảm nghĩ về những tâm sự nhỏ ấy, xin được cùng viết ra nơi đây:

1/ "Tôi ra đời và lớn lên từ đất Quảng Bình đau thương nhưng lại là mảnh đất kiêu hùng như mọi tấc đất thiêng liêng khác của tổ quốc... Tôi đã trải qua một cuộc đời thơ ấu nghèo khổ nhưng thanh bạch, đổ mồ hôi trên từng tấc đất để đổi miếng ăn, và lấy luỹ tre làng, đồng ruộng khô làm vũ trụ xinh đẹp và to lớn của mình...
... Bài học lớn đầu tiên mà tôi học được từ đó là tôi yêu quê hương không phải vì quê hương đó xinh đẹp hay xấu xa, giàu mạnh hay nghèo khổ, mà tôi yêu quê hương vì tôi đã có mặt ở đó, sống để cùng chia xẻ vui buồn, sướng khổ, vinh nhục với đồng bào ruột thịt.
... Bài học lớn cuối cùng mà tôi đã học được từ đó là khi đã yêu quê hương thì phải xả thân bảo vệ và nuôi dưỡng nó".

“Bài học lớn đầu tiên và bài học lớn cuối cùng là yêu quê hương và xả thân bảo vệ”. Chí lý lắm. Rất chính xác. Bởi đó là Sự Thật của hầu hết người Việt Nam. Có tới khoảng 85% dân Việt Nam sống ở nông thôn, ban ngày thì đổ mồ hôi ngoài ruộng đồng, ban đêm thì nghỉ ngơi vui vẻ bên trong luỹ tre bao bọc. Bình thường, giản dị, đơn sơ, mộc mạc, đầy ân tình, nhân nghĩa, độ lượng, bao dung với gia tộc, chòm xóm, và rộng hơn với cả cộng đồng dân tộc.  Ấy, giản dị là thế đó, nhưng khi nhà nước có biến, người dân mộc mạc này sẵn sàng hiến dâng tất cả, kể cả tính mạng của mình để đối phó với giặc ngoại xâm. Hội nghị Diên Hồng với cuộc chống quân Mông Cổ dưới đời nhà Trần là một thí dụ điển hình. Nhiều xóm làng đã sẵn sàng thực hiện đường lối "vườn không nhà trống" để đối địch! Họ đã chẳng hy sinh tất cả khi cần đó sao?

Quê hương Việt Nam ta, thưở xưa ấy, đẹp như thế đó. Tôi rất tâm đắc với bài học lớn đầu tiên và bài học lớn cuối cùng của tác giả Đỗ Mậu. Về sau này, với những cuộc xâm lăng của người Phương Bắc, tiếp đến là từ Tây Phương đã làm lung lay đến tận gốc rễ thôn làng xưa ấy...Một thiểu số tiếp tay cho giặc, làm Việt gian đã tạo ra những hủ tục để dễ đàn áp, bóc lột...và cũng đã phá vỡ những truyền thống tốt đẹp nơi làng xã...Nhưng có thể nói rằng những cuộc xâm lăng ấy tựa như những làn sóng dữ tràn vào quê hương, cái tinh thần văn minh cố cựu của chúng ta phải tạm lắng chìm xuống , hay nói khác đi, phải lui vào bóng tối. Nó vẫn âm thầm sống trong bóng tối, chờ đợi ánh bình minh. Cái tinh thần ấy đã là cái sắc thái, bản chất đặc biệt và riêng biệt của một chủng tộc - là chủng tộc người Việt ta - thì chẳng bao giờ mất được! Nó chỉ trầm luân theo sóng dữ, nổi trôi theo thời cuộc, tan tác như lục bình trôi sông... nhưng khi mà sóng gió đã yên, đã lặng, nó lại sống dậy, tựa như  những đám lục bình lại tụ lại bên bờ...

2/ "Bị lôi cuốn trong cơn lốc lịch sử, tôi đã lấy những quyết định bình thường như trăm ngàn người dân Việt khác: chống Tây đô hộ và chống  Cộng Sản độc tài. Đó không phải là những quyết định chính trị có tính toán mà là những phản ứng có tính bản năng và có tính cách truyền thống. Bị áp bức thì vùng lên, bị kiềm chế thì phản kháng, tự nhiên như trẻ thơ đói khát thì bú vú mẹ." (sđd, trang 849). Điểm này cũng rất chi lý, rất chính xác. Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc bị xâm lăng, bị đàn áp suốt từ ngày lập quốc đến giờ. Dân tộc ta chỉ tranh đấu để tự vệ. Sở dĩ có cuộc Nam tiến để mở mang bờ cõi về phương Nam, cũng chỉ vì bị người phương Bắc xâm lăng, nên phải bánh trướng về phương Nam để tìm đất sống.  Có thể nói, nôm na, là tất cả người Việt Nam từ các nhân vật lãnh đạo đến thứ dân đều bị cuốn trong những cơn lốc lịch sử, cơn lốc của thời đại, nên đều có những phản ứng có tính cách bản năng, trong hoàn cảnh của mỗi người. Nhưng hể có người đứng ra lãnh đạo mà có tài đức, ắt được nhân dân hưởng ứng ngay. Nhân dân hướng về rừng núi Lam Sơn, nơi đó có Lê Lợi, Nguyễn Trãi giương ngọn cờ dân tộc đánh đuổi quân nhà Minh, là một thí dụ hùng hồn. Thí dụ gần nhất là những cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Thái Học, phong trào Cần Vương, v.v...đều được nhân dân hưởng ứng, sẵn sàng xả thân bảo vệ quê hương. Đó là một sự tự nhiên, không tính toán, không tham sống sợ chết.

Người Việt ta vốn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, phải chăng ý thức hệ dân tộc nhân bản đã bao chứa những điểm tinh hoa: thà chết vinh hơn sống nhục, sát thân thành nhân, quan niệm thành nhân trọng hơn quan niệm thành công, quan niệm ác giả ác báo, nhân quả, sống gửi thác về, trọng nhân nghĩa, sống thật với mình và với người, không màu mè, khinh sự giả trá...Thật là đẹp quá, tuyệt quá! Cho nên, với những điểm tinh hoa ấy, ý thức dân tộc nhân bản chẳng bao giờ có thể bị tiêu diệt được, dẫu những cơn lốc thời đại hung dữ đến đâu. Bởi đó chính là Hồn Việt ... mà sử dụng ngôn ngữ bác học, người ta gọi đó là ý thức hệ dân tộc nhân bản đó thôi. Ý thức hệ ... quả thật, đó là mấy chữ mang mầu sắc triết học và chính trị thời thượng mà thôi. Có lẽ là vì những làn sóng phương Tây tràn tới Việt Nam mang tên ý thức hệ này, ý thức hệ nọ, mà người mình mới phải dùng đến các chữ ý thức hệ dân tộc nhân bản để diễn tả Hồn Việt đó chăng? Để phân biệt với các ý thức hệ kia?

Tác giả viết rất rõ "... là những phản ứng có tính bản năng và có tính cách truyền thống". Vâng, chính cái tính cách truyền thống mà tác giả nói đến, là cái Hồn Việt. Mà đã là truyền thống, ắt không thể mất được, không thể bị tiêu diệt được. Mọi âm mưu xoá bỏ, để áp đặt bất cứ một ý thức hệ nào khác lên dân tộc Việt Nam, đương nhiên, trước sau gì, cũng chuốc lấy thảm hại. Cho nên, hiện nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam, tay sai của đế quốc Cộng Sản muốn áp đặt ý thức hệ Mác-Lê duy vật lên dân tộc Việt Nam, đang đứng trước nguy cơ thảm bại. Hồn Việt vẫn âm thầm sống, vẫn nở hoa thơm trong bóng đêm, đợi ngày rạng sáng!

3/ "Vì nói cho rốt ráo, nghĩ cho tận cùng, thì những Hồ Chí Minh, những Ngô Đình Diệm, cuối cùng cũng chỉ là nạn nhân của cơn lốc lịch sử, của cuộc khủng hoảng thời đại đang khống chế dân tộc ta" (sđd, trang 850 ). Điểm này cũng chí lý, chính xác lắm. Toàn bộ nội dung cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi" đã nói lên cho đọc giả thấy cơn lốc lịch sử, cuộc khủng hoảng thời đại đã tràn vào đất nước ta và khống chế dân tộc ta.

Vậy thì, nhìn về tương lai, người Việt Nam nào cũng có thể tự hỏi rằng đến bao giờ cơn lốc lịch sử qua đi? cuộc khủng hoảng thời đại qua đi? Để nó không còn như cơn sóng dữ, như cơn bão lớn không chế dân tộc ta? Vâng, bao giờ sóng tan, mưa tạnh, bão tàn lụi, để Việt Nam được Độc Lập và Hoà Bình? Tác giả Đỗ Mậu đã viết ở trang 845, sách đã dẫn:
"Theo lẽ thường thì dân tộc làm chủ đất nước nên vận mệnh của tổ quốc liên hệ đến vận mệnh của dân tộc mà giai tầng lãnh đạo là giai tầng tiêu biểu. Dân tộc Việt Nam đã có những nhà lãnh đạo anh hùng tài đức trùm trời đất cũng như đã có những bạo chúa hại dân hại nước muôn đời bị nguyền rủa. Từ những thế kỷ 20, vận nước đa đoan nên đáng lẽ từ đống tro tàn của Đệ Nhị Thế Chiến, nước ta phải vươn lên theo ngọn gió Giải Thực khắp Đông Tây để giành lại Độc Lập thống nhất trên sơn hà gấm vóc, nhưng sinh lực suy kiệt nên ta chỉ có những nhà lãnh đạo tay sai Hồ Chí Minh, Lê Duẩn ở miền Bắc, và những nhà lãnh đạo tay sai Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam. " 

Phải chăng, những nhà lãnh đạo tay sai này, ở vào cái thế chẳng đặng đừng do cơn lốc lịch sử kia? Họ cũng chỉ là những nạn nhân? Tôi thiết nghĩ, để trả lời đầy đủ cho câu hỏi này, cần phải có nhiều suy nghĩ thấu đáo hơn, cần đào sâu hơn những tài liệu lịch sử đang được các nhân vật có thẩm quyền giải mật dần.  Bản thân tôi cũng còn phải suy ngẫm nhiều hơn nữa ... Kể cả câu hỏi: "Bao giờ cuộc khủng hoảng thời đại chấm dứt, để nó còn hiệu lực khống chế dân tộc ta?", cũng chưa thể trả lời được? Tôi có cảm tưởng cuộc khủng hoảng thời đại vẫn còn mênh mông, tràn lan trên khắp mặt địa cầu, nhìn đâu cũng thấy một khung trời u ám ...Tôi không trả lời được.

Kết Luận: Dưới đám mây Tần, quê hương nghìn trùng có một ngày trong sáng?

Chúng tôi dùng câu cuối của tác giả Đỗ Mậu trong cuốn "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi", để làm tiểu đề cho kết luận bài viết về cảm nghĩ của tôi đối với cuốn sách: "Dưới đám mây Tần, quê hương nghìn trùng nếu có một ngày trong sáng, thì nấm mộ vàng nơi đất lạ chắc sẽ nở hoa tươi" (sđd, trang 851). Câu văn nói lên cái tâm của tác giả đối với quê hương, cho đến chết vẫn mơ ước quê hương được trong sáng.

Tôi nghĩ, đây là ước vọng của mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoài nước, hiện đứng ở tâm cảnh nào.  Đó là mơ ước chung của người Việt Nam không phân biệt. Vấn đề được gợi ra là làm thế nào thực hiện được ước mơ chung đó? Phải chăng đó là mỗi người Việt Nam góp một chút tâm tư và sức lực để cùng nhau cởi cái nút lịch sử oan nghiệt đang bóp chặt bước tiến của tổ quốc? 

Than ơi, cái nút lịch sử oan nghiệt ấy rất khó biết và cũng rất khó tháo gở ... bởi vì, tôi nghĩ, nó có liên hệ đến cơn lốc lịch sử, cuộc khủng hoảng thời đại, mà tác giả Đỗ Mậu đã nói đến, và chúng tôi đã trích dẫn trên. Có lẽ chúng ta không còn cách nào khác hơn là chờ đợi, nhưng không chờ đợi với thái độ tiêu cực, ù lì đứng một chỗ, mà chờ đợi với thái độ tích cực như trường hợp tác giả Đỗ Mậu:
"Tôi là sự tiếp nối tự nhiên của một tiền nhân vô danh nào đó từ thời lập quốc, bị áp bức thì chống, bị xâm lăng thì đánh, bị đổ vỡ thì xây dựng, chứ không ù lì đứng một chỗ, buộc căn cước văn hoá và lý tưởng đấu tranh vào một triều đại nào, một chế độ nào, hay một ý thức hệ nào." (sđd, trang 850)

Tôi đã suy ngẫm về một số lập trường chính trị trong việc xây dựng Việt Nam, mà ông Đỗ Mậu đã viết ra trong cuốn sách của ông :
" ... từ 30 năm nay, Phật giáo Việt Nam đề nghị một sinh lộ và kêu gọi một nỗ lực cuối cùng: Lấy sức mạnh của dân tộc để hoà giải tranh chấp của quá khứ, Hoà giải các phe đối nghịch trong hiện tại, và Hoà hợp đời sống trong Hoà bình tương lai mà mô thức chính trị quốc gia có thể là Dân Chủ Xã Hội Phi liên kết" (sđd, trang 807)

" ... giáo chủ Phạm Công Tắc đã chủ trương một nước Việt Nam Hoà Bình Trung Lập (cũng giống như chủ trương Phật giáo)" (sđd, trang 807)

"... Chủ trương Việt Nam Trung lập phi liên kết là một sáng tạo chính trị tích cực và là một đóng góp quí giá của Phật giáo Việt Nam cho dân tộc trong cái viễn ảnh đó, tiếc thay cả hai ông Hồ và Ngô đều giáo điều và thiển cận nên không nhìn thấy được, do đó đã làm cho đất nước tang thương và dân tộc điêu linh mãi cho đến ngày nay." (sđd, trang 524)

"... Đau đớn nhìn lại lịch sử...khi mất nước vào tay Cộng sản, lưu vong nơi xứ người, nhiều chính khách, lãnh tụ, tướng tá, trí thức, cả già lẫn trẻ mong cầu Việt Nam sau khi được giải thoát khỏi chế độ Công sản, sẽ là một quốc gia trung lập" (sđd, trang 524)

Tôi tự hỏi Việt Nam trong tương lai, có thể là một quốc gia trung lập không? Hỏi để mà hy vọng. Rất có thể, Việt Nam phải kinh qua những gia đoạn nổi trôi như nó đã và đang xẩy ra, thì rồi đây mới có thể bước tới chỗ ổn định được, theo luật cùng tắc biến biến tắc thông. Cuộc khủng hoảng thời đại sẽ phải tới lúc cùng, phải biến thông. 

Nhìn cuộc diện thế giới, thế lưỡng cực Cộng sản và Tư bản đang mờ nhạt dần, thế đa cực đang chuyển biến hình thành... Trong cái toàn cảnh của toàn cầu ấy, các nước nhỏ như Việt Nam chiếm đa số trên mặt địa cầu, sẽ có nhu cầu được tôn trọng Độc Lập, Thống Nhất, Tự Do và Trung Lập phi liên kết của họ? Việt Nam ta, có thể sẽ có cơ hội thành một quốc gia hoà bình trung lập. Nhưng muốn nắm bắt được cơ hội ấy, người Việt Nam phải có sự chuẩn bị, nhất là tinh thần của người lãnh đạo đất nước, không thể coi mình là những người ngoại quốc sống trên quê hương mình, không như kẻ ngoại nhân đô hộ nhân dân mình, không có lòng trắc ẩn đối với người mình, như trước kia kẻ lãnh đạo đã sai lầm. Kẻ nào thi hành nhân nghĩa sẽ là người cai trị.

HOÀNG NGỌC HIỂN


Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016


ĐÁNH GIÁ TÀI LIỆU TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU
LỊCH SỬ VIỆT NAM CỌNG HÒA

Lâm Vĩnh Thế


Sách báo Anh ngữ đã được xuất bản về Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và về Chiến tranh Việt Nam trong hơn nữa thế kỷ vừa qua chiếm môt số lượng có thể nói là khổng lồ. Gần đây hơn, trong khoảng thời gian độ hai mươi năm qua, chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều sách báo Việt ngữ đã được xuất bản tại hải ngoại về nhiều vấn đề, sự kiện, biến cố trong các lãnh vực chính trị, quân sự của VNCH truớc năm 1975. Một phần rất lớn những cuốn sách và bài báo thuộc loại này do những vị đã từng có hoạt động trong chính quyền hoặc quân lực VNCH, ngay cả có tham dự vào chính các biến cố chính trị, quân sự đó. Các tác giả, do đó, thuờng có khuynh huớng ghi lại các biến cố với khá nhiều chi tiết. Tuy nhiên, đa số các tác giả đều viết lại các biến cố theo ký ức của mình, nhiều khi không dựa vào bất cứ tài liệu nào nên sự chính xác của các chi tiết mà họ ghi lại không cao lắm. Bản thân tác giả bài viết này đã thực hiện khá nhiều cuộc nghiên cứu về lịch sử của VNCH, đặc biệt chú trọng vào giai đoạn 1963-1967. Trong quá trình nghiên cứu, nguời viết không tránh khỏi phải đọc khá nhiều những tài liệu nói trên.
Bài viết này đuợc soạn thảo để chia xẻ với độc giả những kinh nghiệm trong việc đánh giá tài liệu có liên quan đến lịch sử của VNCH.

Những Đòi Hỏi Đối Với Người Nghiên Cứu Sử

Trong bất cứ thời đại nào và tại bất cứ quốc gia nào, người làm công tác nghiên cứu và ghi chép lại lịch sử cần phải công bằng, vô tư và khách quan. Tại sao vậy? Bởi vì mục tiêu của họ là ghi lại một cách trung thực và chính xác các sự việc, biến cố đã xảy ra trong quá khứ để cho trong tương lai khi có người muốn tìm hiểu thì có thể biết được sự thật.

Muốn ghi lại một cách trung thực và chính xác sự kiện lịch sử, đòi hỏi đầu tiên là nguời nghiên cứu phải có một sự hiểu biết khá đầy đủ về giai đoạn lịch sử mà mình định nghiên cứu. Sự hiểu biết này phải đuợc thể hiện trên một số lãnh vực: ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế và quân sự. Về ngôn ngữ, người nghiên cứu lịch sử phải hoàn toàn làm chủ được (mastering) ngôn ngữ của tài liệu, hiểu thật rõ thông tin chứa đựng trong tài liệu. Không những thế, người nghiên cứu còn phải có khả năng nắm đuợc những biến đổi của ngôn ngữ về ngữ vựng (kể cả tiếng lóng), về chính tả, về văn phong, vv. duới ảnh hưởng của những đổi thay về văn hóa, xã hội, và chính trị. Có như thế, người nghiên cứu mới có khả năng phát hiện đuợc những tài liệu ngụy tạo. Về mặt văn hóa, xã hội, người nghiên cứu cũng cần phải có những hiểu biết về hệ thống giáo dục, tín nguỡng, phong tục, tập quán của con người trong giai đoạn lịch sử đó để có thể hiểu đuợc cách hành xử, ứng phó cũng như hành động của các đối tượng nghiên cứu. Sau hết, người nghiên cứu cũng phải có hiểu biết đầy đủ về hệ thống tổ chức và điều hành của bộ máy chính trị, kinh tế và quân sự của quốc gia trong giai đoạn lịch sử đó để có thể hiểu đuợc các tài liệu về chính sách, đuờng lối cũng như những kế hoạch, chương trình đề ra trong giai đoạn đó. Bên cạnh đòi hỏi sự hiểu biết về bộ máy chính quyền như vừa nói, người nghịên cứu cũng phải rất quen thuộc với tên họ của các nhà lãnh đạo cũng như các chính trị gia, các tuớng lãnh và các nhân sĩ trong giai đoạn lịch sử đó.

Việc đòi hỏi kế tiếp là phải cố gắng tìm cho được các tài liệu có liên quan đến sự kiện lịch sử đó. Di nhiên không thể nào có thể bảo đãm là đã tìm được tất cả các tài liệu về việc đó. Người nghiên cứu chỉ có thể cố gắng tìm cho được tài liệu càng nhiều càng tốt. Trong khi thu thập tài liệu, dĩ nhiên, các tài liệu loại nhứt đẳng (primary documents; tức là loại tài liệu gốc) cần phải đuợc ưu tiên chú ý.
Khi đã thu thập đuợc một số tài liệu tạm đủ rồi, việc kế tiếp phải làm là sắp xếp các tài liệu lại theo thứ tự thời gian mà tài liệu đã đuợc soạn thảo, in ấn để có một cái nhìn tổng quát về toàn bộ tài liệu. Việc sắp xếp này giúp ích rất nhiều cho người nghiên cứu. Truớc tiên là nó giúp cho người nghiên cứu thấy rõ mối quan hệ giữa các tài liệu: cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào tạo ra cái nào, cái nào chịu ảnh huởng của cái nào, vv. Từ đó người nghiên cứu sẽ có thể sắp xếp tài liệu theo tầm quan trọng của chúng. Việc sắp xếp này cũng giúp cho người nghiên cứu, trong bước kế tiếp là đánh giá tài liệu, có thể loại bỏ bớt những tài liệu thuộc loại "râu ria," không có giá trị vì không chứa đựng thông tin gì mới, hay thuộc loại ngụy tạo, hoàn toàn không đáng tin.

Buớc kế tiếp, rất quan trọng trong công tác nghiên cứu, là việc đánh giá tài liệu. Việc đánh giá tài liệu gồm hai phần: hình thức của tài liệu và nội dung của tài liệu. Về hình thức, việc đầu tiên là phát hiện những lỗi về nhân danh, địa danh; các lỗi này có thể do in ấn mà cũng có thể do chính tác giả của tài liệu phạm phải, nhứt là trong các tài liệu do người ngoại quốc viết ra. Kế tiếp, người nghiên cứu phải đặc biệt chú trọng đến văn phong, ngữ vựng sử dụng trong tài liệu để có thể xác định thời gian tài liệu đuợc làm ra, từ đó có thể biết được tài liệu là thật hay được ngụy tạo. Nếu tài liệu gồm có cả hình ảnh, bản đồ, biểu đồ, thống kê, vv. Thì người nghiên cứu càng phải xem xét cẩn thận hơn, nhứt là các tiêu đề của các phần đó xem có đúng không. Người nghiên cứu còn phải đặc biệt quan tâm đến phần ghi chú về xuất xứ của các tài liệu đã được sử dụng trong quá trình hình thành của tài liệu đang được đánh giá; phần này rất quan trọng, vì nó giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá tài liệu, cho biết mức độ hiểu biết của tác giả về đề tài bàn đến trong tài liệu, cũng như mức độ nghiêm túc của tác giả tài liệu. Về nội dung của tài liệu, nguời nghiên cứu cần phải đọc thật kỷ tài liệu, hiểu thật rõ ý nghĩa của thông tin trong tài liệu để có thể nắm chắc được tác giả muốn chuyển đạt điều gì và với mục đích gì. Cần phải hiểu rõ động cơ của tác giả vì đó là điều kiện cần để xác định tính vô tư, khách quan của tài liệu. Những sự việc, biến cố đề cập đến trong tài liệu cần phải được so sánh với cùng sự việc, biến cố được đề cập đến trong những tài liệu khác để nhận định về tính chính xác của tài liệu đang được đánh giá. Thông thuờng những tài liệu do chính tác giả là người đã có tham gia vào các sự việc, biến cố đó đáng được tin hơn những tài liệu do các tác giả không phải là người có tham dự. Nhưng điều này cũng không phải là tuyệt đối vì người trong cuộc cũng có thể quên đi nhiều chi tiết qua thời gian, hoặc do chính sự chủ quan của họ mà họ có thể không nhìn thấy một số chi tiết hay bỏ qua một số chi tiết mà họ cho là không quan trọng, không đáng kể. Đó là chưa kể đến việc phần lớn các sách hồi ký được các tác giả viết ra là để biện minh cho hành động của mình hoặc đề cao cá nhân mình; việc này khiến cho các hồi ký phần nhiều không được vô tư, khách quan, ngay cả có thể không chính xác.

Khi hoàn thành việc nghiên cứu, và đúc kết lại những thông tin mà mình tin là đúng sự thật lịch sử, nguời nghiên cứu phải có những nhận định thật vô tư, khách quan về các sự việc, biến cố được ghi lại. Chuyện gì đúng thì phải nói là đúng, chuyện gì sai thì phải nói là sai; tuyệt đối không nên đứng trên lập truờng phe phái mà phán xét. Sau hết, nguời nghiên cứu phải ý thức rằng cái gọi là "sự thật lịch sử" trong chính công trình nghiên cứu của mình cũng chỉ là phản ánh
của việc tìm tòi và hiểu biết của giai đoạn nghiên cứu của mình mà thôi. "Sự thật lịch sử" đó dứt khoát không thể là phán quyết sau cùng; các nhà nghiên cứu trong tương lai có thể tìm ra được những tài liêu mới, soi sáng thêm cho đề tài nghiên cứu và đem lại một cái nhìn mới hơn, hoàn hảo hơn đối với sự việc, biến cố lịch sử đã được nghiên cứu đó.

Kinh Nghiệm Thực Tiển Đánh Giá Tài Liệu Về VNCH

Kinh nghiệm của người viết bài này tương đối giới hạn. Lý do chánh là vì trọng tâm nghiên cứu của người viết chỉ là giai đoạn ngắn ngủi giữa hai nền cộng hòa, 1963-1967. Hơn nữa, người viết đã quyết định chỉ tìm hiểu về khía cạnh chính trị của giai đoạn lịch sử đó mà thôi; các mặt quân sự, kinh tế và xã hội chỉ được đề cập đến khi cần để minh họa cho khía cạnh chính trị. Do đó số tài liệu tham khảo, cả tiếng Anh và tiếng Việt, không được nhiều lắm.

Đối Với Tài Liệu Anh Ngữ
Tài liệu Anh ngữ của người Mỹ về VNCH gồm hai phần :
1) Những sách báo, tài liệu nghiên cứu và hồi ký của các nhân vật chính trị, quân sự của Hoa Kỳ đã được xuất bản; và
2) Tài liệu của Chính phủ Hoa Kỳ, nhứt là các tài liệu mật nay đã đuợc bạch hóa (giải mật; declassified). Trong quá trình nghiên cứu, người viết bài này đã sử dụng một số tài liệu Anh ngữ trong công việc nghiên cứu của mình, trong đó tài liệu đã giải mật của Chính phủ Hoa Kỳ, đặc biệt là của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo (Central Intelligence Agency -- CIA), chiếm một phần rất quan trọng. Việc đánh giá các tài liệu Anh ngữ này hoàn toàn tuân theo những đòi hỏi đã trình bày bên trên.

■ Về các tài liệu thuộc loại nghiên cứu, người viết đã tham khảo các sách liệt kê sau đây:
· The Agency: the rise and decline of the CIA; ấn bản có sửa chửa, của John Ranelagh, do nhà Simon & Schuster xuất bản vào năm 1987, gồm 869 trang.
· Anatomy of a war: Vietnam, the United States and the modern historical experience của nhà Pantheon Books xuất bản vào năm 1985, gồm 828 trang.
· Choosing war: the lost chance for peace and the escalation of war in Vietnam của Fredrik Logevall do University of California Press xuất bản vào năm 1999, gồm 529 trang.
· Foreign relations of the United States của John P. Glennon làm soạn gỉa chính cùng với các soạn giả phụ là các ông Edward C. Keefer và Charles S. Sampson, do nhà U.S. Government Printing Office xuất bản vào năm 1992. Phần của các năm 1964-1968.
· Intervention: how America became involved in Vietnam của George McT. Kahin, do nhà Alfred A, Knopf xuất bản vào năm 1986, gồm 550 trang.
· Lyndon B. Johnson’s Vietnam papers: a documentary collection của soạn giả David M. Barrett, do nhà Texas A & M University Press xuất bản vào năm 1997, gồm 869 trang.
· The Lost Revolution: the U.S. in Vietnam, 1946-1966; ấn bản có sửa chửa, của Robert Shaplen, do nhà Harper & Row xuất bản vào năm 1966, gồm 404 trang.
· Vietnam: a history của Stanley Karnow do nhà Penguin Books xuất bản vào năm 1983, gồm 752 trang.
· Vietnam: the definitive documentation of human decisions của soạn giả Gareth Porter, do nhà E.M. Coleman Enterprises xuất bản vào năm 1979, gồm 2 quyển.
· The U.S. Government and the Vietnam War: executive and legislative roles and relationships, của William Conrad Gibbons do Princeton University Press xuất bản, 1986-1995. Đặc biệt là các phần Part II (1961-1964), Part III (January-July 1965) và Part IV (July 1965-January 1968).

■ Về các tài liệu thuộc loại hồi ký, người viết đã tham khảo các sách liệt kê sau đây:
· In retrospect: the tragedy and lessons of Vietnam của Robert S. McNamara và Brian Van DeMark do nhà Times Books xuất bản vào năm 1995, gồm 414 trang.
· A soldier reports của William C. Westmoreland, do nhà Doubleday xuất bản vào năm 1976, và sau đó nhà Da Capo Press tái bản vào năm 1989, gồm 446 trang.
· Swords and plowshares của Maxwell D. Taylor, do nhà W.W. Norton xuất bản vào năm 1972, gồm 434 trang.
· The Vantage point: perspectives of the presidency, 1963-1969 của Lyndon B. Johnson, do nhà Holt, Rinehart and Winston xuất bản vào năm 1971, gồm 636 trang.
 

■ Về tài liệu đã giải mật của Chính phủ Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa, người viết đã sử dụng cơ sở dữ liệu trực tuyến Declassified Documents Reference Systems (DDRS) trong sưu tập của Trường Đại Học Saskatchewan, Canada.

■ Về các tài liệu thuộc loại tham khảo, tác giả cũng có sử dụng một số tài liệu liệt kê sau đây:
· Dictionary of the Vietnam War của soạn giả James S. Olson, do nhà Greenwood Press xuất bản vào năm 1988, gồm 585 trang.
· Encyclopedia of the Vietnam War của soạn giả Stanley I. Kutler, do nhà Charles Scribner’s Sons xuất bản vào năm 1996, gồm 711 trang.
· Encyclopedia of the Vietnam War: a political, social, and military history của soạn giả Spencer C. Tucker, do nhà ABC-CLIO xuất bản vào năm 1998, gồm 3 quyển tổng cộng 1196 trang.

Việc tham khảo các tài liệu tiếng Anh đã được số hóa (digitized) và có thể đọc nguyên văn (full text) phần lớn được thực hiện qua kho Văn Khố Ào về Việt Nam (Vietnam Virtual Archive, thường được viết tắt là VVA) của Trung Tâm Việt Nam (Vietnam Center) của Trường Đại Học Texas Tech University, tại thành phố Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

Về phương diện hình thức, những lỗi lầm thường gặp phải trong tài liệu Anh ngữ đều liên quan đến các nhân danh và địa danh. Tuy nhiên, phải công nhận là các tài liệu Anh ngữ (thuộc loại nghiên cứu, hồi ký hay tham khảo) được xuất bản thông thuờng ít có các lỗi này vì các nhà xuất bản, đặc biệt là các nhà xuất bản thương mại lớn (trade publisher) và các nhà xuất bản đại học (university press) của Tây Âu và Bắc Mỹ, đều tự đặt ra cho chính họ nhiều quy định và duyệt xét rất chặt chẽ trong tiến trình in ấn. Tài liệu đã giải mật của CIA, đặc biệt là loại Công điện (Intelligence Information Cable) vì cung cấp loại tin sống (raw intelligence) và không thông qua tiến trình kiểm chứng và đánh giá, thường vấp phải lỗi lầm này.1

Xin nêu ra đây một trường hợp điển hình như sau:
Trong Công điện mang số TDCS-314/01862-65 của CIA, đề ngày 10-2-1965, được gìải mật ngày 20-12-1975, gồm 4 tr., liệt kê thành phần Nội các mà Bác si Nguyễn Lưu Viên dự định thành lập và sẽ trình diện Quốc Truởng Phan Khắc Sửu vào ngày 12-2-1965, nhưng sau đó không thành,2 tên họ của một số nhân vật đã bị viết sai như sau:
- ông Nguyễn Văn Trường, Bộ Trưởng Giáo Dục, đã bị viết sai là Le Van Truong
- ông Đàm Sĩ Hiến, Bộ Trưởng Xã Hội, đã bị viết sai là Nam Si Hien
- ông Lữ Văn Vi, Bộ Trưởng Tư Pháp, đã bị viết sai là Luu Van Vi
- ông Phan Khắc Sửu, Quốc Trưởng, đã bị viết sai là Pham Khac Suu
- Bác sĩ Phan Quang Đán, Tổng Trưởng Văn Hóa Xã Hội, đã bị viết sai là Pham Quan Dan
Việc nhận ra được những lỗi về tên người trong công điện này của CIA rõ ràng đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm rất vững tên họ của các nhân vật chính trị của VNCH trong giai đoạn này.

Về phương diện nội dung, việc đánh giá các tài liệu của các tác giả và soạn giả Mỹ, thuộc tất cả cả 3 loại nghiên cứu, hồi ký và tham khảo, do các nhà xuất bản lớn hay các nhà xuất bản đại học hay chính phủ xuất bản thường không gặp nhiều khó khăn vì tất cả các sách đó đều đã được xét duyệt cẩn thận bởi các nhân viên có khả năng và giàu kinh nghiệm của chính các nhà xuất bản. Những sự kiện, biến cố với thời gian và địa điểm xảy ra được viết trong các tài liệu phần lớn đều được ghi chú rất kỷ lưởng, giúp cho việc kiểm chứng, đánh giá được dễ dàng.
Hệ thống điểm sách của Bắc Mỹ rất đầy đủ, và vì vậy, khi một tác phẩm quan trọng được phát hành thì chúng ta có thể thấy xuất hiện rất nhiều bài điểm sách (reviews) đánh giá tác phẩm đó. Vì vậy các nhà xuất bản không thể buông thả hay lơ là trong việc xét duyệt tác phẩm về cả hình thức lẩn nội dung trước khi xuất bản tác phẩm. Xin nêu ra đây một thí dụ cụ thể để minh họa về tính cách nghiêm túc của các tài liệu của Hoa Kỳ thuộc loại nghiên cứu.
Trong tác phẩm The U.S. Government and the Vietnam War: executive and legislative roles and responsibilities. Part III: January – July 1965 của tác giả William Conrad Gibbons, do nhà Princeton University Press xuất bản năm 1989, ở trang 122, dưới tiêu đề: The Marines are sent to Danang (Thủy Quân Lục Chiến được gửi tới Đà Nẵng), tác giả ghi như sau: “On February 22, General Westmoreland requested that two Marine battalion landing teams (a battalion landing team is a battalion with support forces; there are three or four battalions in a brigade) be deployed to Danang, with a third held in reserve on ships off shore.” 193 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ngày 22 Tháng Hai, Tướng Westmoreland yêu cầu gửi hai tiểu đoàn đổ bộ Thủy Quân Lục Chiến (một tiểu đoàn đổ bộ là một tiểu đoàn với các đơn vị yểm trợ; một lữ đoàn có ba hoặc bốn tiểu đoàn) tới Đà Nẵng, với một tiểu đoàn thứ ba ở được giữ làm trừ bị trên các chiến hạm ở ngoài khơi.”) Và ngay dưới cuối trang, ghi chú số 193 được trình bày như sau:
193. Johnson Library, NSF NSC History, Deployment of Forces, MACV to CINCPAC 220743Z Feb. 1965, MAC JOO 5515. Ghi chú này cho biết rõ thông tin mà tác giả trình bày bên trên nằm trong tài liệu được đánh số MAC JOO 5515, là một văn thư của Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV = Military Assistance Command – Vietnam) gửi về cho Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ Tại Thái Bình Dương (CINCPAC = Commander-In-Chief – Pacific) ngày 22 tháng 2 năm 1965, lúc 07 giờ 43, được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Lyndon Baines Johnson, trong bộ hồ sơ có tiêu đề Deployment of Forces (Phối Trí Lực Lượng), là một phần của bộ hồ sơ thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC = National Security Council).

Vì thế người viết không tìm thấy những điều không trung thực trong các tác phẩm của người Mỹ như đã tìm thấy khá nhiều trong những tác phẩm của một số tác giả người Việt, như phần bên dưới sẽ cho thấy rõ. Điều này không có nghĩa là người viết tuyệt đối tin tưởng tất cả những gì các tác giả Mỹ viết ra. Người viết luôn luôn chú ý tới khuynh hướng chính trị của các tác giả để có thể hiểu rõ hơn động cơ, ý đồ của họ trong khi họ diễn giải các sự kiện, biến cố. Lấy một thí dụ để minh họa. Cuốn Vietnam: a history của Stanley Karnow được giới báo chí Mỹ đánh giá cao. Báo Los Angeles Times đánh giá Karnow và cuốn sách như sau:
“His is a rich and unusual mixture; he has the reporter’s eye for meaningful detail, an ear for the memorable quote, and he works hard to give the Indochina epoch a historian’s perspective.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Cuốn sách của ông ấy là một sự pha trộn phong phú và bất thường; ông ấy có con mắt của một phóng viên để có thể nhìn thấy một chi tiết có ý nghĩa, một cái tai có thể nghe được một câu nói đáng ghi nhớ, và ông ta làm việc tích cực để mang lại cho cái giai đoạn Đông Dương đó một bối cảnh lịch sử.”) Tờ Boston Globe thì khen như sau: “The most comprehensive, up-to-date, and balanced account we have of the Vietnam War.” (Xin tạm dịch sang tiếng Việt như sau: “Đây là một bản tường thuật tổng hợp, cập nhựt và quân bình nhứt mà chúng ta có được về Chiến Tranh Việt Nam.”) Tất cả các nhận xét, đánh giá về tác giả và cuốn sách này đều rất đúng. Tác giả là môt nhà báo có trình độ, tốt nghiệp từ hai đại học danh tiếng của Mỹ và Pháp là Đại Học Harvard và Đại Học Sorbonne, và đã làm phóng viên cho 2 tuần báo lớn của Mỹ là Time và Life tại Đông Nam Á (bao gồm cả Việt Nam) từ năm 1959. Ông quen biết nhiều nhân vật Mỹ và Việt trong đủ mọi giới nên thông tin trong cuốn sách của ông rất chính xác. Người viết không tìm thấy một điểm sai sự thật nào trong cuốn sách của ông. Nhưng cuốn sách của ông, nếu phân tích kỷ cho đến cùng, chúng ta sẽ nhận ra rằng, tuy không lộ liễu, trắng trợn, nó hàm ý ca ngợi Miền Bắc hơn là Miền Nam trong cuộc chiến này.

Gần 1/3 cuốn sách ở phần đầu, trình bày lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam, và sau đó là hoạt động của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như cuộc chiến tranh chống người Pháp (1949-54) thật ra muốn cho độc giả thấy bản chất cách mạng tốt đẹp và tính chính thống của những người Cộng Sản. Ở trang 239, trong phần kết thúc về việc Miền Bắc cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào tháng 12 năm 1960, mặc dù đã nhận định rằng “The front’s real leadership resided in the People’s Revolutionary party and the Liberation army, its Communist components, which took their orders from the Politburo in Hanoi,” (xin tạm dịch sang tiếng Việt như sau: “Quyền lãnh đạo thật sự của Mặt Trận nằm trong Đảng Nhân Dân Cách Mạng và Quân Đội Giải Phóng, các thành phần Cộng sản của Mặt Trận, họ nhận lệnh từ Bộ Chính Trị ở Hà Nội”) ông vẫn kết luận rằng “But to label the National Liberation Front as simply a satellite of Ho Chi Minh’s regime, as American spokesmen were to do, was to miss a key point.” (xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Nhưng gán cho Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc cái nhản hiệu là một vệ tinh của chế độ Hồ Chí Minh, như các phát ngôn nhân của Hoa Kỳ đã làm, là không thấy được một điểm chính).
Chính vì vậy, tác giả là ký giả Mỹ đầu tiên và duy nhứt mà Chính quyền Cộng Sản cho phép nhập cảnh trở lại vào Việt Nam trong 7 tuần lễ ngay từ năm 1981, khi mà giữa Mỹ và Việt Nam vẫn còn chưa có quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, để thật công bình đối với tác giả Karnow, chúng ta vẫn phải nhìn nhận rằng chuyến đi Việt Nam 7 tuần lễ vào năm 1981 đó đã mở mắt cho ông rất nhiều về chế độ Cộng sản Việt Nam, như ông đã trình bày khá chi tiết trong các trang 35-42 của Chương mở đầu của cuốn sách mà ông đặt cho tiểu tựa là The War Nobody Won (tạm dịch sang Việt ngữ: Cuộc Chiến Không Ai Thắng). Dù sao đi nữa, người viết cũng rất dè dặt khi trích dẫn cuốn sách này.

Việc đánh giá về nội dung của các tài liệu mật của Hoa Kỳ, đặc biệt là tài liệu của CIA, tương đối khó khăn hơn so với các sách được xuất bản vì chúng ta không được biết nguồn gốc của thông tin trong tài liệu. Tất cả các tài liệu mật của Hoa Kỳ, ngay cả sau khi đã đuợc giải mật và công bố để cho mọi người có thể truy dụng, đều luôn luôn xóa bỏ phần "Source and Appraisal," nên chúng ta không bao giờ có thể biết được nguồn gốc của thông tin trong tài liệu là từ đâu ra hay do ai cung cấp. Ngoài ra, rất nhiều tài liệu loại này còn bị thanh lọc (sanitized) nữa, nghĩa là bôi đen một số từ, cụm từ hay có khi nguyên cả đoạn (paragraph) trong tài liệu.
Thông thường tài liệu thuộc loại Công điện của CIA đều chứa đựng loại thông tin mới mẻ, chưa có sách báo nào đề cập đến nên không thể phối kiểm bằng tài liệu đã được xuất bản truớc đó. Cách tốt nhứt là đối chiếu và phối kiểm chúng với những tài liệu cũng của CIA đuợc làm ra tiếp sau đó. Xin nêu ra một trường hợp để minh họa như sau:
* Trong cuộc bầu cử Tổng Thống đầu tiên của Đệ Nhị Cộng Hòa vào tháng 9-1967, chúng ta đều biết là lúc đầu cả 2 tướng Thiệu và Kỳ đều ra ứng cử Tổng Thống trong hai liên danh riêng rẻ; Tuớng Thiệu đứng chung liên danh với ông Trịnh Quốc Khánh, còn Tuớng Kỳ thì chung liên danh với Luật sư Nguyễn Văn Lộc; nhưng sau đó, vào giờ chót của thời hạn nộp đơn ứng cử, ngày 30-6-1967, sau cuộc họp của Hội Đồng Quân Lực (HĐQL) kéo dài 2 ngày (29 và 30-6) tại Bộ Tổng Tham Mưu do Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, triệu tập, hai Tướng Thiệu Kỳ quyết định rút bỏ hai liên danh đó và cùng đứng chung với nhau trong một liên danh mới, Tướng Thiệu ứng cử Tổng Thống và Tướng Kỳ ứng cử Phó Tổng Thống. Lúc đó tin này là một bất ngờ, gây chấn động rất lớn trong hang ngũ những người ủng hộ Tuớng Kỳ. Tài liệu mật của CIA cũng có bàn về chuyện này. Tài liệu thứ nhứt của CIA là một Công điện, đề ngày 3-7-1967, gồm 10 trang, với chủ đề (Subject) như sau: "Agreement between Chief of State Thieu and Prime Minister Ky that Thieu, as President, will be a figurehead and Ky, as Vice President, will retain principal control after the elections." 3 (Xin tạm dịch sang tiếng Việt như sau: “Thỏa thuận giữa Quốc Trưởng Thiệu và Thủ Tướng Kỳ là Thiệu, với tư cách Tổng Thống, sẽ chỉ là hình thức và Kỳ, với tư cách Phó Tổng Thống, sẽ toàn quyền kiểm soát sau cuộc bầu cử.”) Tài liệu này cung cấp thông tin nhằm giải thích tại sao Tướng Kỳ chịu đứng chung liên danh với Tướng Thiệu và còn nhuờng cho Tướng Thiệu ứng cử Tổng Thống. Đó là vì Tướng Thiệu đồng ý chấp nhận, nếu đắc cử, ông chỉ là Tổng Thống trên danh nghĩa mà thôi, Tuớng Kỳ vẫn tiếp tục nắm trọn quyền hành trong quân đội và chính quyền.
Việc thỏa thuận này sẽ được ghi lại trên văn bản và sẽ đuợc giữ bí mật giữa các tướng lãnh cao cấp trong HĐQL mà thôi. Mật uớc này giữa các tướng lãnh cao cấp là một sự vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp của VNCH mới ban hành vào ngày 1-4-1967 nên thông tin này là một điều quá bất thường và đồng thời cũng rất khó mà kiểm chứng đuợc, nên rất khó tin. Hơn nữa, công điện này lại chứa đựng nhiều đoạn ca ngợi Tướng Kỳ rất nhiều đồng thời lại chỉ trích, chê bai Tướng
Thiệu khá nặng. Vì thế mức độ khả tín của công điện này tương đối không cao lắm. Ngày 11-8 1967, Đại sứ Hoa Kỳ, lúc đó là ông Ellsworth Bunker, đã hỏi thẳng Tướng Kỳ về việc này và ông Kỳ đã chối phắt đi là không có.4
Nhưng chưa đầy một tuần lễ sau đó, ngày 14-8-1967, Walt W. Rostow, Cố Vấn An Ninh Quốc
Gia, đã gửi một văn thư cho Tổng Thống Lyndon B. Johnson cho biết họ đã có được một bản của cái gọi là "Charter = Hiến chuong" (gồm 22 trang) của Ủy Ban Quân Sự Tối Cao bí mật đó của các tướng lãnh VNCH.5 Hai ngày sau đó, một công điện của CIA cũng xác nhận sự hiện hữu của ủy ban đó, và nguồn tin là một tướng lãnh thành viên của ủy ban đó.6 Đến đây thì không còn nghi ngờ gì nữa cả: mật ước của các tướng lãnh cao cấp của VNCH là môt chuyện có thật.7

Trong những tài liệu Anh ngữ này có một số hồi ký của các nhân vật chính trị và quân sự của VNCH, liệt kê sau đây theo thứ tự thời gian đuợc xuất bản:
● Twenty years and twenty days, của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, do nhà Stein and Day xuất bản tại New York vào năm 1976, gồm 239 trang.
● Our endless war: inside Vietnam, của Trung Tướng Trần Văn Đôn, do nhà Presidio Press xuất bản tại San Rafael, California vào năm 1978, gồm 274 trang. Cuốn sách này về sau được chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề là Việt Nam nhân chứng: hồi ký chánh trị, do nhà Xuân Thu xuất bản tại Los Alamitos, Calif. vào năm 1989, gồm 562 trang.
● The Palace file, của Tiến si Nguyễn Tiến Hưng, do nhà Harper & Row xuất bản tại New York vào năm 1986, gồm 542 trang. Cuốn sách này về sau đuợc chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề là Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, do nhà C & K Promotions xuất bản tại Los Angeles, Calif. vào năm 1987, gồm 908 trang.
● In the jaws of history, của Đại sứ Bùi Diễm và David Chanoff, do nhà Houghton Mifflin xuất bản tại New York vào năm 1987, gồm 367 trang. Cuốn này về sau được Indiana University Press tái bản tại Bloomington, Indiana vào năm 1999, với cùng số trang. Cuốn sách này về sau cũng được chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề là Gọng kìm lịch sử, do nhà Phạm Quang Khai xuất bản tại Paris vào năm 2000, gồm 596 trang.
● Buddha's child : my fight to save Vietnam, của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Marvin J. Wolf, do nhà St. Martin's Press xuất bản tại New York vào năm 2002, gồm 376 trang
● The twenty-five year century: a South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon, của Trung Tướng Lâm Quang Thi, do University of North Texas Press xuất bản vào năm 2011, gồm 423 trang.

Trong các cuốn hồi ký này, hai cuốn sách của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và cuốn sách của Đại sứ Bùi Diễm là đáng lưu ý nhứt vì cả hai tác giả đều là những nhân vật đã đóng những vai trò quan trọng, nhứt là Tướng Kỳ, trong khoảng thời gian 1963-1967 tại VNCH.
Hai cuốn sách này của Tuớng Kỳ tuy xuất bản cách nhau 26 năm nhưng nội dung tương đối giống nhau vì là hồi ký của cùng một nhân vật. Cuốn thứ nhứt hoàn toàn viết theo trí nhớ, không có dựa vào tài liệu và cũng không có hình ảnh gì cả. Cuốn thứ nhì chứa đựng nhiều chi tiết hơn, có một số hình ảnh và thỉnh thoảng có trích dẫn tài liệu. Tuy nhiên hai cuốn đều giống nhau ở những điểm sau đây: dao to búa lớn, tự đề cao nhiều quá, và rất nhiều chổ không trung thực.
Nguời viết không bàn về chuyện dao to búa lớn và về việc tự đề cao quá lố của Tướng Kỳ, chỉ xin nêu ra một số điểm tiêu biểu về tính không trung thực của ông mà thôi. Trong cuốn thứ nhứt, Twenty years and twenty days, ở trang 75, ông Kỳ cho biết chính ông đã tạo dựng ra hai Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (UBLĐQG) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Uong (UBHPTƯ). Nguyên văn Anh ngữ như sau: "I wanted collaboration and I got it by setting up a ruling committee called the Committee of National Leadership, composed of powerful figures within the military, a dozen able civilians, and spokesmen for each political party. At the heart of the committee was the Executive Council—the government, with me as chairman." 8 (Xin tạm dịch sang tiếng Việt như sau: Tôi muốn có sự hợp tác và có được nó bằng cách thiết lập một ủy ban cầm quyền gọi là Ùy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, gồm những nhân vật uy quyền của quân đội, khoảng độ một chục nhân vật dân sự có khả năng, và các phát ngôn nhân của các chính đảng. Ở giữa lòng Ủy Ban đó là Ủy Ban Hành Pháp—tức là Chính phủ—do tôi đứng đầu.”) Điều này hoàn toàn không đúng, cả 2 Ủy Ban đó đều do Đại Hội Đồng các tuớng lãnh của QLVNCH thành lập và đề cử nguời. Tướng Thiệu chỉ trở thành Chủ Tịch UBLĐQG sau khi Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu từ chối sự đề cử của các tướng lãnh hiện diện, và chính Tướng Chiểu, sau đó, đã đề cử Tướng Thiệu. Cũng như thế, Tướng Kỳ chỉ trở thành Chủ Tịch UBHPTƯ sau khi Tướng Nguyễn Chánh Thi từ chối sự đề cử của các tướng lãnh hiện diện, và cũng chính Tướng Thi, sau đó, đề cử Tuớng Kỳ.9
Ngoài ra, đoạn văn đó cũng chứa đựng một số thông tin không đúng. Ông Kỳ cho biết là trong UBLĐQG, ngoài các tướng lãnh còn có độ một chục nhân vật dân sự có khả năng, và các phát ngôn viên của các chính đảng. Điều này hoàn toàn không đúng khi UBLĐQG mới thành lập vào ngày 14-6-1965. Lúc đó UBLĐQG chỉ gồm có tổng cộng tất cả 10 nguời và tất cả đều là tướng lãnh QLVNCH. Chỉ sau khi xảy ra vụ Biến Động Miền Trung vào năm 1966, sau khi Tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức Tư Lệnh Vùng I, thì UBLĐQG mới quyết định nới rộng thành phần và mời thêm 10 nhân vật dân sự tham gia.
Trong một đoạn, khác, khi nói về việc tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến năm 1966 ở trang 99, ông Kỳ cho biết là ông đã ký 2 sắc luật về việc đó. Nguyên văn Anh ngữ như sau: "... by May 1966 I was able to sign a decree setting up a committee to draft electoral laws and procedures. ... The following month I signed another decree setting September 11 as the date for the election of a constituent assembly..." 10 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “...vào khoảng tháng 5 năm 1966 tôi đã có thể ký một sắc lệnh thiết lập một ủy ban để soạn thảo các luật và thủ tục bầu cử... Tháng kế tiếp tôi ký một sắc lệnh nữa ấn định ngày 11 tháng 9 là ngày bầu cử một quốc hội lập hiến...”) Điều này cũng không đúng vì việc ký ban hành sắc luật thuộc thẩm quyền của Quốc Truởng, tức là Chủ Tịch UBLĐQG. Chính Tướng Thiệu, với tư cách Chủ Tịch UBLĐQG, là nguời đã ký hai sắc luật đó.
Trong cuốn hồi ký thứ nhì, Buddha's child: my fight to save Vietnam, Tướng Kỳ cũng đã ghi lại nhiều chuyện không đúng. Nguời viết đã đánh giá các điểm không trung thực này khá nhiều trong khi thực hiện cuộc nghiên cứu về đề tài "Mật uớc giữa các tuớng lãnh cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa" đã trình bày bên trên, cũng như trong khi hoàn thành Chương 9 của cuốn sách Việt Nam Công Hòa, 1963-1967: những năm xáo trộn, trong đoạn nói về việc cách chức Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng I.11 Để minh họa cho việc đánh giá này, người viết xin ghi lại đây diễn tiến của việc cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng I:
· Theo sách Buddha’s child: my fight to save Vietnam, Tướng Kỳ cho biết ông rất tức giận vì bị người của Tướng Thi chê bai Chính phủ trung ương và làm nhục ông trong chuyến viếng thăm Vùng I vào ngày 2-3-1966, và quyết định cách chức Tư Lệnh Vùng I của Ông Thi ngay lập tức, sau khi phi cơ vừa cất cánh rời hỏi phi trường Phú Bài (Huế). Ông viết như sau ở trang 198: “I turned back to Co and said: “As soon as we are airborne, use the aircraft radio and send a cable to Thi, relieving him of his command.” Co, stunned, asked: “What did you say?” I repeated myself, and a few minutes later he sent the cable.” (Xin tạm dịch sang tiếng Việt như sau: “Tôi quay lại phía Có và nói: “Ngay sau khi mình đã bay lên rồi, anh hảy dung điện đài trên máy bay và gửi công điện cho Thi, cách chức tư lệnh của hắn.” Có, choáng váng, hỏi lại: “Anh nói cái gì?” Tôi lập lại, và vài phút sau anh ta gửi công điện đi.”) Người được nêu tên Có chính là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Tổng Ủy Viên Chiến Tranh Kiêm Ủy Viên Quốc Phòng, tức là Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng.
· Sự thật đâu phải như vậy. Tướng Thi chỉ bị Ùy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia cách chức ngày 11-3-1966.12 Trước đó 3 ngày, ngày 8-3-1966, UBLĐQG (thu hẹp, chỉ gồm bốn tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có và Cao Văn Viên) đã mời Tướng Thi vào Sài Gòn, thuyết phục ông từ chức với lý do sang Hoa Kỳ chửa bệnh một thời gian nhưng không thành vì
Tướng Thi không đồng ý.13 Ngày hôm sau, 9-3-1966, UBLĐQG thu hẹp này còn cố gắng thuyết phục ông thêm một lần nũa nhưng ông vẫn không chịu. UBLĐQG thu hẹp này phải quyết định quản thúc ông tại nhà và triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực vào ngày hôm sau, 10-3-1966, để thảo luận và quyết định về Tướng Thi.14 Riêng bản thân Tướng Kỳ, ngay sau đó đã ra lệnh cho người của ông điện thoại cho Đại sứ Hoa Kỳ mời ông đến gặp ngay để bàn về việc cách chức Tướng Thi.15 Ngày 10-3-1966, Hội Đồng Quân Lực đã họp, thảo luận, và bỏ phiếu kín với kết quả là tất cả các tướng lãnh hiện diện đều bỏ phiếu thuận đối với việc cách chức Tướng Thi. Chỉ có duy nhứt 1 phiếu trắng của Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhảy Dù.16 Và ngày hôm sau, 11-3-1966, UBLĐQG mới công bố quyết định này.

Khác hẳn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ luôn luôn sử dụng dao to búa lớn và tự đề cao quá đáng trong hai cuốn hồi ký vừa điểm qua, tác giả Đại Sứ Bùi Diễm trong cuốn hồi ký In the jaws of history luôn luôn thận trọng và nghiêm túc. Tuy nhiên, đoạn nói về việc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng sáng ngày 8-3-1965 trong cuốn hồi ký của ông cần phải được đánh giá lại.
· Theo sách In the jaws of history, ông Bùi Diễm cho biết sang sớm ngày hôm đó, Thủ Tuớng Quát gọi điện thoại, kêu ông đến gặp ngay vì có chuyện khẩn cấp. Khi ông đến nơi thì ông Quát cho biết Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Mỹ đang đổ bộ vào Đà Nẵng nên Chính phủ cần phải ra ngay một thông báo chính thức vể việc này. Ông Quát yêu cầu ông cùng với một viên chức Mỹ có mặt lúc đó là ông Melvin Manfull soạn thảo ngay thông cáo báo chí này. Điểm chính yếu mà tác giả Bùi Diễm muốn nói là biến cố đó tuy không phải hoàn toàn là một bất ngờ lớn đối với ông nhưng nó quá đột ngột và Chính phủ Quát không có chuẩn bị cho biến cố đó.
· Sự thật không phải như vậy. Biến cố này hoàn toàn không phải đột ngột và Chính phủ Quát rõ ràng đã có những chuẩn bị cho biến cố đó. Bằng chứng như sau: 1) Hình ảnh trên báo chí thời đó cho thấy lúc TQLC Mỷ đổ bộ lên bải biển có sự hiện diện của các thiếu nữ chào đón quân Mỹ với các vòng hoa; và có cả sự hiện diện của Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng I để chào đón Chuẩn Tướng Frederick J. Karch, Tư Lệnh Lữ Đoàn TQLC Mỹ; 2) Một số công điện của Đại sứ Mỹ lúc đó là Tướng Maxwell Taylor gửi về Bộ Ngoại Giao Mỹ để tường trình việc ông đến gặp Thủ Tướng Quát để thông báo về việc đổ bộ 2 tiểu đoản TQLC Mỹ vào Đà Nẳng, cũng như việc Tướng Westmoreland, Tư Lệnh Lực Lượng Mỹ tại Việt Nam gặp gở Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quân Lực và Trung Tướng Trần Văn Minh, Tổng Tư Lệnh QLVNCH, và sau đó bay ra Đà Nẳng để gặp và thảo luận với Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng I, về việc đổ bộ 2 tiểu đoàn TQLC này.
Vì tác phong thận trọng và nghiêm túc của tác giả Bùi Điễm trong cuốn hồi ký này, người viết tin rằng tác giả hoàn toàn không có động cơ che dấu sự thật. Vậy thì tại sao tác giả lại trình bày biến cố này như vậy trong cuốn hồi ký của ông ? Người viết nghĩ rằng chỉ có một cách giải thích tương đối hợp lý: đó là vì tác giả không được Thủ Tướng Quát thông báo về việc này với lý do rất có thể vì Thủ Tướng Quát chỉ xem việc đổ bộ 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ này là một việc hoàn toàn thuần túy quân sự (lý do Đại sứ Mỹ nêu ra khi gặp Thủ Tướng Quát là chỉ để bảo vệ phi trường Đà Nẵng, nơi xuất phát các phi cơ bay đi oanh tạc Bắc Việt của Chiến Dịch Rolling Thunder đã được cả 2 Chính phủ Việt Mỹ thông qua rồi) nên ông chỉ thông báo cho các tường Thiệu, Minh và Thi mà thôi. Xin xem chi tiết trong bài viết “Tìm hiểu thêm về việc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965.” 17

■ Đối Với Tài Liệu Việt Ngữ
Vì trọng tâm nghiên cứu của nguời viết là khoảng thời gian giữa hai nền Cộng hỏa, 1963-1967, nên số luợng tài liệu Việt ngữ mà nguời viết tham khảo thật ra cũng không nhiều lắm. Có thể chia các tài liệu tiếng Việt này ra làm 3 nhóm: nghiên cứu, hồi ký, và linh tinh.
Nhóm sách Việt ngữ thuộc loại nghiên cứu, do những tác giả nghiêm túc, dựa trên tài liệu lịch sử khả tín, chỉ chiếm một số lượng tương đối rất thấp, gần như không đáng kể, thí dụ như:
· Lê Xuân Khoa. Việt Nam 1945-1995: chiến tranh, tị nạn, bài học lịch sử. Tập I: Tị Nạn 1954 và Bài Học Bốn Cuộc Chiến (1945-1979). Bethesda, Md.: Tiên Rồng xuất bản, 2004. 568 tr.
· Nguyễn Tiến Hưng. Khi đồng minh tháo chạy. San Jose, Calif.: Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2005. 705 tr.
· Nguyễn Tiến Hưng. Tâm tư Tổng Thống Thiệu. San Jose, Calif.: Cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh, 2010. 711 tr.
Rất tiếc người viết không sử dụng được các cuốn sách này trong việc nghiên cứu của mình vì nội dung của chúng thảo luận về những vấn đề nằm ngoài khoảng thời gian 1963-1967, trừ một phần rất nhỏ của cuốn sách best-seller của Giáo sư Lê Xuân Khoa, từ trang 458 đến trang 465.
Nhóm sách quan trọng nhứt thuộc loại hồi ký của những nhân vật chính trị và quân sự của VNCH. Sau đây là danh sách các cuốn hồi ký mà người viết có tham khảo, xếp theo thứ tự thời gian xuất bản:
· Đỗ Mậu, Việt Nam máu lửa quê hương tôi, 1987, 1267 trang.
· Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: một trời tâm sự, 1987, 385 trang.
· Nguyễn Tiến Hưng, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, 1987, 908 trang.
· Phạm Bá Hoa, Đôi dòng ghi nhớ, 4 ấn bản, 1994, 1995, 1998, 2007, 385 trang.
· Lý Tòng Bá, 25 năm khói lửa, 1995, 282 trang.
· Nguyễn Xuân Phác, Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, 1996, 399 trang.
· Tôn Thất Đính, 20 năm binh nghiệp, 1998, 455 trang.
· Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử, 2000, 596 trang.
· Huỳnh Văn Lang, Nhân chứng một chế độ, 2000, 3 tập.
· Phạm Văn Liễu, Trả ta sông núi, 2002-2004, 3 tập.
· Hồ Văn Kỳ Thoại, Can trường trong chiến bại, 2006, 329 trang.
· Liên Thành, Biến động miền trung, 2008, 433 trang.
· Vũ Quốc Thúc, Thời đại của tôi, 2010, 2 tập.
· Lê Xuân Nhuận, Biến loạn miền trung, 2012, 488 trang.
· Đỗ Sơn, Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất và sự thật cuộc triệt thoái Quân Đoàn II, 2013, 388 trang.

Nhìn vào danh sách trên đây, chúng ta nhận ra ngay là phần lớn các tác giả đều là quân nhân; chỉ có 5 vị (các ông Nguyễn Tiến Hưng, Nguyễn Xuân Phác, Bùi Diễm, Huỳnh Văn Lang và Vũ Quốc Thúc) không phải là quân nhân.
Các cuốn hồi ký nêu trên, hoặc ít hoặc nhiều, đều có nội dung có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của người viết nhưng quan trọng nhứt là các cuốn liệt kê sau đây:
· Việt Nam máu lửa quê hương tôi
· Việt Nam: một trời tâm sự
· Đôi dòng ghi nhớ
· Gọng kìm lịch sử
· Trả ta sông núi
Chúng đã cung cấp một số thông tin quan trọng cho việc nghiên cứu của người viết với mức độ khả tín khác nhau. Người viết xin lần lượt điểm qua từng cuốn như sau:
· Việt Nam máu lửa quê hương tôi: tác giả Đỗ Mậu là một sĩ quan cao cấp (Đại Tá, Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, cơ quan chịu trách nhiệm về an ninh chính trị trong Quân đội cho chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đinh Diệm), đã tham gia tích cực vào cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và sau khi cuộc đảo chánh thành công ông được thăng lên cấp Thiếu Tướng (giống như 2 vị Đại Tá kia là: Nguyễn Hữu Có và Nguyễn Văn Thiệu); cuốn hồi ký của ông là cuốn sách đồ sộ nhứt (với 1267 tr.), với nhiều tài liệu tham khảo nhứt, và với mức độ khả tín khá cao, nhưng đồng thời cũng là cuốn sách bị chỉ trích nhiều nhứt và nặng nề nhứt bởi những người hoặc theo Công Giáo hoặc thuộc phe tôn sùng Ngô Đình Diệm với lý do là tác giả viết sách chỉ vì muốn biện minh cho việc chống lại ông Ngô Đình Diệm và lên án hành động phản quốc của một số con chiên Công Giáo.
Ông Douglas Pike (1924-2002), một chuyên gia Hoa Kỳ về Việt Cộng và Chiến Tranh Việt Nam, cũng như phần đông những tác giả nghiêm túc khác, có cái nhìn vô tư và khách quan hơn đối với tác phẩm đồ sộ này. Ông viết như sau:
“A big book, this 1286-page autobiography of the well-known former ARVN general and GVN minister and vice-premier is also a detailed history of the Vietnamese first republic. There is a great deal of historical analysis here in addition to recounting of events. For instance, Do Mau is exceedingly hard (provocative even) on Catholicism and its influence on Vietnamese culture.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Là một tác phẩm đồ sộ, cuốn tự truyện 1286 trang này của một cựu tướng lãnh, tổng trưởng và phó thủ tướng nổi tiếng cũa Chính phủ VNCH, cũng là một cuốn lịch sử chi tiết của nền Đệ Nhứt Công Hòa của Việt Nam. Ngoài việc kể lại các biến cố, cuốn sách còn có rất nhiều đoạn phân tích chính trị. Ví dụ, tác giả Đỗ Mậu tỏ ra rất cứng rắn (ngay cả gần như khiêu khích) đối với Công Giáo và ảnh hưởng của tôn giáo này đối với văn hóa Việt Nam”). Nguồn liệu: Mục điểm sách của tạp san Indochina chronology, vol. 5, no. 3 (July / Sept. 1986).
Chương 18 của cuốn sách này, với tiểu đề Ba năm xáo trộn, từ tr. 825 đến tr. 930, cung cấp nhiều thông tin quan trọng và có mức độ khả tín khá cao về giai đoạn 1963-1965 mà tác giả có lúc tham gia như một tác nhân tích cực và cũng có lúc là một nạn nhân đáng thương của các tướng lãnh trẻ vốn là đàn em của tác giả, nhứt là sau khi tác giả bị cho về hưu vào tháng 3 năm 1965 (Sắc Lệnh số 119/QT/SL do Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu ký ngày 24-5-65; trong Sắc Lệnh ghi rõ: “Được nghĩ phép 3 tháng có lương kể từ ngày 21-12-64, và được xuất ngũ để hồi hưu theo thâm niên kể từ 21-3-65: Đại-tướng Dương Văn Minh, càc Trung-tướng Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Ngọc Lễ, Lê Văn Nghiêm, Lê Văn Kim, các Thiếu-tướng Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Quan, Nguyễn Văn Ngượt tự Giác Ngộ. Nguồn liệu: Đoàn Thêm. 1965: việc từng ngày ; tựa của Lãng Nhân. Sài Gòn: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 1968. Los Alamitos, Calif.: Nhà xuất bản Xuân Thu tái bản, 1989. Tr. 85).
· Việt Nam: một trời tâm sự: tác giả Nguyễn Chánh Thi là một vị tướng lãnh của QLVNCH, cấp bậc và chức vụ cuối cùng của ông là Trung Tướng, Tư Lệnh Vùng I. Cuốn hồi ký của ông, quả đúng như cái tựa mà ông dùng cho cuốn sách, là tâm sự của ông. Ông viết với trái tim, với cảm xúc, bộc lộ rõ cá tính của ông là một người chánh trực, nhiệt huyết, nóng tính, và không thỏa hiệp với cái xấu, cái ác. Toàn bộ cuốn sách của ông không có một ghi chú nào hết, và cũng không có liệt kê ra bất cứ tài liệu tham khảo nào hết. Ông nhớ tới đâu viết tới đó, và vì không có tra cứu tài liệu tham khảo, rất nhiều sự kiện ông không ghi ra ngày tháng hoặc ghi không đúng. Và, dĩ nhiên, có những điều ông không nhớ nên không viết ra. Một thí dụ nhỏ: ông hoàn toàn không có đề cập đến vụ TQLC Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965 lúc ông đang là Thiếu Tướng Tư Lệnh Vùng I và có mặt tại bải biển để đón chào Chuẩn Tường Frederick J. Karch, Tư Lệnh Lữ Đoàn TQLC Hoa Kỳ đó. Do những tính chất đặc biệt này, cuốn hồi ký của ông chứa đựng một lượng thông tin rất lớn có mức độ khả tín khá cao vì chúng liên hệ trực tiếp đến chính bản thân, cuộc đời, và sự nghiệp của ông, nhưng rất cần được kiểm chứng và đánh giá. Lấy một thí dụ để minh họa. Về diễn tiến của vụ ông bị cách chức Tư Lệnh Vùng I vào tháng 3-1966, ở trang 340, ông viết như sau: “Lúc 9 giờ 30 sáng ngày 10-3-1966, tôi đến Saigon, về ở số nhà 9 đường Gia Long. Anh Phạm Văn Liễu đã có mặt ở đó.” Chi tiết về ngày tháng là không đúng. Tướng Thi đã về Sài Gòn trước đó ít nhứt là 2 ngày, vì vào ngày 8-3-1966, ông đã có mặt trong một buổi họp ở Bộ Tổng Tham Mưu. Đại Tá Phạm Bá Hoa, trong cuốn hồi ký của ông, Đôi dòng ghi nhớ (ấn bản lần 4, 2007), ở trang 192, đã ghi như sau: “Ngày 08 tháng 03 năm 1966, buổi họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. Buổi họp có mục đích giải quyết trực tiếp vụ Trung Tướng Thi đã nhiều lần tỏ ra chống lại lệnh của trung ương.” Tác giả Phạm Bá Hoa lúc đó còn mang cấp bậc Trung Tá và giữ chức vụ Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Buổi họp vừa nói là do chính tác giả sắp xếp theo lệnh của Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Vì vậy thông tin về buổi họp này có mức độ khả tín rất cao. Sau đó tác giả, trong những trang kế tiếp, còn tường thuật thêm các diễn tiến trong các ngày 9, 10 và 11 tháng 3-1966, đặc biệt là việc các tướng Thiệu, Kỳ, Viên và Có cố gắng thuyết phục Tướng Thi một lần nữa vào sáng ngày 9-3-1966, sau đó mới quyết định quản thúc Tướng Thi tại nhà, và triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực vào ngày 10-3-1966 để thảo luận và quyết định về việc cách chức Tướng Thi. Công điện của Đại sứ Hoa Kỳ (lúc đó là ông Henry Cabot Lodge, thời gian này là lần thứ hai ông làm Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, lần thứ nhứt là trong khoảng thời gian từ ngày 22-8-1963 cho đến ngày 28-6-1964) gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 9-3-1966 cũng xác nhận việc các tướng lãnh VNCH đã có bàn về việc cách chức Tướng Thi đã xảy ra vào buổi sáng ngày 9-3-1966 trước khi ông đi gặp Tướng Kỳ.18
· Đôi dòng ghi nhớ: tác giả Phạm Bá Hoa là một sĩ quan cao cấp của QLVNCH, cấp bậc và chức vụ cuối cùng là Đại Tá, Tham Mưu Trường Tổng Cục Tiếp Vận, Bộ Tổng Tham Mưu. Cuốn hồi
ký của ông là một trong một vài cuốn hồi ký khá hiếm của các nhân vật chính trị và quân sự của VNCH có mức độ khả tín rất cao. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, như Chánh Văn Phòng của Tham Mưu Trưởng Liên Quân Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm lúc xảy ra cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và Chánh Văn Phòng của Tổng Tham Mưu Trưởng Trung Tướng Cao Văn Viên, lúc diễn ra vụ cách chức Tư Lệnh Vùng I của Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. Ông chỉ ghi lại những sự kiện mà chính ông có chứng kiến hoặc tham dự, và có ghi chép lại đầy đủ. Chúng ta vừa có dịp khảo sát phần nào mức độ khả tín của cuốn hồi ký này trong phần trên.
· Gọng kìm lịch sử: tác giả Bùi Diễm là một khuôn mặt chính trị khá quen thuộc của sân khấu chính trị của VNCH trong thời gian 1963-1975. Ông đã từng giữ chức vụ Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng của Chính phủ Phan Huy Quát (từ ngày 16-2-1965 đến ngày 19-6-1965), và Đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ (1967-1972). Cuốn hồi ký này chỉ là bản dịch sang tiếng Việt của nguyên tác tiếng Anh của tác giả In the jaws of history. Những gì người viết đã nhận định về nguyên tác cũng áp dụng cho bản dịch này.
· Trả ta sông núi: tác giả Phạm Văn Liễu là 1 sĩ quan cao cấp của QLVNCH, đã từng tham dự cuộc đảo chánh thất bại ngày 11-11-1960 của binh chủng Nhảy Dù, phải sống lưu vong tại Cao Miên cùng với Đại Tá Nguyễn Chánh Thi trong thời gian 3 năm; đã từng giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia (1965-1966). Cuốn hồi ký của ông gồm 3 tập, trong đó Tập 2 có liên quan đến phạm vi nghiên cứu về lịch sử VNCH của người viết. Vì được sự tin dùng của cả 2 tướng Nguyễn chánh Thi và Nguyễn Cao Kỳ (2 vị tướng có thế lực nhứt trong Nhóm Tướng Trẻ, mà báo chí Hoa Kỳ lúc đó thường gọi chung là The Young Turks, nhứt là của Tướng Thi, mà ông đã có phần tham dự rất tích cực trong việc các tướng lãnh tạo ra Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (UBLĐQG) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTƯ), và sau đó là Nội Các Chiến Tranh của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, sau khi Chính phủ Phan Huy Quát giao quyền lại cho phe quân nhân. Do đó, phần lớn các thông tin trong Tập 2 liên quan đến các sự kiện, biến cố trong giai đoạn 1965-1967 có mức độ khả tín khá cao. Qua các thông tin ở các trang 302-303, chúng ta được biết khá chi tiết việc các tướng lãnh bầu Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu vào chức vụ Chủ Tịch UBLĐQG (tức Quốc Trưởng) và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ vào chức vụ Chủ Tịch UBHPTƯ (tức Thủ Tướng). Phần đánh giá về cá tính của 2 tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ ở 2 trang 306-307 cũng rất chính xác.

■ Trong nhóm tài liệu thuộc loại linh tinh, bộ sách biên niên của tác giả Đoàn Thêm là đáng tin cậy nhứt. Bộ sách này gồm có tất cả 6 cuốn:
· Hai mươi măm qua: 1945-1964, 424 tr.
· Việc từng ngày: 1965, 243 tr.
· Việc từng ngày: 1966, 262 tr.
· Việc từng ngày: 1967, 334 tr.
· Việc từng ngày: 1968, 481 tr.
· Việc từng ngày: 1969, 454 tr.
Phần lớn độc giả đều biết cụ Đoàn Thêm là một tác giả rất nghiêm túc, lại có căn bản là một nhà hành chánh lảo luyện, nhiều năm kinh nghiệm. Những dữ kiện ghi lại trong các cuốn biên niên của cụ, đặc biệt là danh sách các chính phủ, các cuộc cải tổ nội các, các việc thăng cấp của các tuớng lãnh, phần lớn dựa vào tài liệu cụ thu thập đuợc và ghi chép lại trong suốt thời gian làm việc, trong đó chắc chắn một phần khá nhiều là những văn kiện của chính phủ đăng trong Công Báo VNCH nên rất chính xác. Một lý do nữa của mức độ khả tín cao của các cuốn biên niên này là việc chúng đuợc xuất bản không bao lâu sau khi sự việc, biến cố xảy ra (về sau này những cuốn biên niên của cụ Đoàn Thêm đuợc tái bản tại hải ngoại trong thập niên 1990 chỉ là bản in lại nên hoàn toàn không có thêm bớt, thay đổi gì cả).
Giá trị của những cuốn biên niên này của tác giả Đoàn Thêm nằm ở chổ giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử VNCH rất nhiều trong việc dựng lại một cách chính xác thứ tự thời gian xảy ra của các biến cố quan trọng trong đời sống chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội của VNCH trong khoảng thời gian đó. Nếu muốn tìm hiểu nguyên nhân của các biến cố hay tác động hổ tương giữa các biến cố thì bộ sách này sẽ không giúp được gì nhiều vì đó không phải là mục tiêu của bộ sách này.

■ Trong các tài liệu thuộc loại linh tinh này cũng cần lưu ý đến một số ít các tài liệu tham khảo sau đây:
· Chiến tranh Việt Nam toàn tập: từ trận đầu (Áp Bắc – 1963) đến trận cuối (Sài Gòn – 1975) của Nguyễn Đức Phương do Làng Văn xuất bản vào năm 2001, gồm 957 trang.
· Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy, do Hương Quê xuất bản vào năm 2011, gồm 899 trang.
· Từ điển Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 của Nguyễn Kỳ Phong biên soạn, do Nhà sách Tự Lực xuất bản vào năm 2009, gồm 500 trang.
Các tài liệu này mặc dù nghiêng nặng về mặt quân sự nhưng có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin quan trọng và chính xác về các nhà lãnh đạo VNCH trong giai đoạn 1963-1967 vì hầu hết các vị này đều là tướng lãnh.

Thay Lời Kết

Việc nghiên cứu lịch sử VNCH càng ngày càng được nhiều người Việt ở nước ngoài cũng như ở trong nước quan tâm. Chuyện này, cũng như nhiều chuyện khác, có hai mặt. Mặt tích cực là giúp cho những thế hệ trẻ, sanh sau ngày 30-4-1975, có nhiều tài liệu để hiểu rõ hơn về chế độ cộng hòa ở Miền Nam trước ngày 30-4-1975. Mặt tiêu cực là cũng sẽ có nhiều tài liệu có thể tạo ra hiểu lầm hoặc hiểu sai về VNCH vì đã không được các tác giả viết ra với tinh thần vô tư, khách quan cần thiết của một người viết sử. Việc đánh giá các tài liệu về lịch sử của VNCH, do đó, trở nên rất quan trọng, không những đối với các tác giả mà luôn cả đối với độc giả.
Bài viết này mong góp được một số ý kiến cho mọi người trong việc đánh giá các tài liệu, cả tiếng Việt và tiếng Anh, về lịch sử của VNCH.

Ghi Chú:

1. Lâm Vinh Thế, "Tài liệu mật của CIA về Việt Nam Cộng Hòa," trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2008), tr. 252-274.

2. Lâm Vinh Thế, "Một nội các chết non của V.N.C.H.” trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2008), tr. 118-129.

3. “Agreement between Chief of State Thieu and Prime Minister Ky that Thieu, as President, will be a figurehead and Ky, as Vice President, will retain principal control after the elections”, trong cơ sở dữ liệu Declassified Documents Reference System (DDRS). Tài liệu này là môt Công điện của CIA, thuộc loại Intelligence Information Cable, đề ngày 3-7-1967, giải mật ngày 6-4-1993, gồm 10 tr.. Tài liệu này đã được Virtual Vietnam Archive (VVA) đánh số là Item Number 04107108007 và có thể đọc trực tuyến và toàn văn tại trang Web của VVA tại địa chỉ INTERNET sau đây: http://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/  của Đại Học Texas Tech University, tại Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.

4. “Cable from Ambassador Bunker on ... report on alleged "military affairs committee," trong cơ sở dữ liệu DDRS. Tài liệu này là một Công điện MẬT từ Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn gửi về Bộ Ngoại Giao, đề ngày 11-8-1967, giải mật ngày 2-11-1994, gồm 3 tr. Tài liệu này đã được VVA đánh số là Item Number 0010137106 và có thể đọc trực tuyến và toàn văn tại trang Web của VVA theo địa chỉ INTERNET đa có ghi ở Ghi chú số 3 bên trên. Xin luu ý một điều là: VVA đa điều chỉnh tựa đề của Công điện này và gọi nó là Letter from Ambassador Bunker to President Lyndon B. Johnson. Trong Công điện này, Đại sứ Bunker tuờng trình cuộc nói chuyện của ông với Tuớng Kỳ. Phần nói về mật uớc giữa các tuớng lãnh VNCH, ở cuối tr. 1 và đầu tr. 2, ghi nhu sau: "3. Report on alleged "military affairs committee" ... As interpreted by Ky today in conversation with Ambassador, group is presumably the military members of the Directorate who meet regularly to consider matters relating to reorganisation and improvement to Republic of Vietnam Armed Forces, pacification and related subjects. Ky stated there is no inner group which will seek to control government after elections as called and said this story could be flatly denied."

5. “Military control organization”, văn thư của Walt W. Rostow, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, gửi cho Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson. Văn thư nầy, chí có 1 trang, đề ngày 14-8-1967, giải mật ngày 28-9-1995, đã được VVA đánh số Item Number 0010133019 và có thể đọc trực tuyến và toàn văn tại trang Web của VVA. Văn thư ghi rõ như sau: "... the generals have written a "charter" for their planned Supreme Military Committee. The purpose is clear: to maintain military control of government after the election. Our text of the alleged "charter" (22 pages) came from a usually reliable source in the Vietnamese military."

6. “Comments on "Supreme Military Committee," trong cơ sở dữ liệu DDRS. Tài liệu này là một công điện của CIA thuộc loại Intelligence Information Cable, đề ngày 16-8-1967, giải mật ngày 20-9-1979, gồm 3 tr. Tài liệu ghi rõ như sau: "...stated on 15 August 1967 that word of the existence of the "Supreme Military Committee" had probably leaked out from one of the generals who is a member of it."

7. Lâm Vinh Thế, "Mật uớc giữa các tuớng lãnh cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa," trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont. : Hoài Việt, 2008), tr. 228-251.

8. Nguyễn Cao Kỳ. Twenty years and twenty days. New York : Stein and Day, 1976. Tr. 75.

9. Phạm Văn Liễu. Trả ta sông núi : hồi ký. Tập 2: 1963-1975. Houston, Tex. : Văn Hóa, 2003. Tr. 302-303.

10. Nguyễn Cao Kỳ, sđd, tr. 99.

11. Lâm Vinh Thế. Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967 : những năm xáo trộn. Hamilton, Ont. : Hoài Việt, 2010. Tr. 144-145. Xin đọc thêm Ghi chú số 30, ở các tr. 247-248.

12. Đoàn Thêm. 1966: Việc từng ngày; tựa của Lãng Nhân. Sài Gòn: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 1968. Tái bản: Los Alamitos, Calif.: Nhà xuất bản Xuân Thu, 1989. Tr. 42, tác giả ghi như sau: “11-3-66. Hội-đồng các Tướng-lãnh và UBLĐQG nhóm họp 5 tiếng đồng-hồ tại Bộ Tổng-tham-mưu và quyết định cho Trung-tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư-lịnh Vùng I Chiến-thuật kiêm Đại-biều Chính-phủ tại vùng này, được nghĩ phép để đi chữa bệnh mũi.”

13. Phạm Bá Hoa. Đôi dòng ghi nhớ; hồi ký chính trị, 1963-1975. Ấn bản lần 4. Houston, Tex.: Ngày Nay, 2007. Tr. 192-193 có ghi như sau: “Ngày 08 tháng 03 năm 1966, buổi họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. Buổi họp có mục đích giải quyết trực tiếp vụ Trung Tướng Thi đã nhiều lần tỏ ra chống lại lệnh của trung ương...Từ lúc bắt đầu họp cho đến lúc chấm dứt khi trời tối hẳn, không một vị nào bước ra ngoài, ngoại trừ trường hợp Trung Tướng Viên bảo tôi lo ăn trưa. Với nét mặt đăm chiêu qua những nếp nhăn trên vầng trán của các vị, tôi đoán là cả ngày họp chẳng đạt được kết quả nào. Riêng Trung Tướng Thi có vẻ như tức giận thì phải.”

14. Phạm Bá Hoa, sđd, tr. 198 có ghi như sau: “Cuối cùng cũng không đạt kết quả, nên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp quyết định “quản thúc” Trung Tướng Thi, lúc đầu dự trù tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng sau đó đưa về quản thúc tại nhà ông với sự canh giữ của An Ninh Quân Đội và Quân Cảnh.” Sau đó, ở trang 199, có ghi như sau: “Trước khi ra về, Trung Tướng Viên tạt vào phòng tôi: “Chú mời “Đại Hội Đồng Quân Lực” họp lúc 10 giờ sáng mai (10/3/1966). Không mời Tư Lệnh Sư Đoàn 1 (Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, tại Huế) và Sư Đoàn 2 (Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm, tại Quảng gãi). Lý do sẽ cho biết khi họp.”

15. Gibbons, William Conrad. The U.S. Government and the Vietnam War: executive and legislative roles and relationships. Part IV: July 1965 – January 1968. Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1995. Tại các tr. 268-269, có ghi như sau: “On March 9, Ambassador Lodge received a telephone call from Ky’s office asking him to come immediately to a meeting with the Premier... Ky asked Lodge for advice about removing Thi, saying that at a meeting earlier that day other members of the junta had favoured removal. He added that he could not continue as
Premier unless this was done. Lodge replied that, as U.S. Ambassador, he could not comment, but speaking unofficially and as a friend he thought Ky should plan his moves carefully and should document his case against Thi before acting.” Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Vào ngày 9 tháng 3, Đại sứ Lodge nhận được điện thoại từ Văn phòng của Kỳ yêu cầu ông đến gặp ngay Thủ Tướng...Kỳ yêu cầu Lodge cố vấn về việc cách chức Thi, cho biết là trước đó cùng ngày các thành viên của nhóm tướng lãnh đã đồng ý việc cách chức. Ông nói thêm là ông không thể tiếp tục làm Thủ Tướng nếu không làm chuyện này. Lodge trả lời rằng, với tư cách Đại sứ Hoa Kỳ, ông không thể bình luận về chuyện này, nhưng một cách không chính thức và với tư cách là một người bạn, ông nghĩ là Kỳ nên chuẩn bị việc này một cách cẩn thận và nên có tài liệu đầy đủ chông lại Thi trước khi hành động.”
Việc Đại sứ Lodge được mời đến gặp Tướng Kỳ để bàn về việc cách chức Tướng Thi đề cập đến trong sách này được xác nhận trong một công điện do Đại sứ Lodge gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 9-3-1966 (giải mât ngày 21-7-1997, gồm 2 trang), trong đó có ghi rõ như sau: “He had had a meeting with all the generals this morning, less Thi, Vinh Loc and Quang, and had told them that he intended to share this burden with them, and asked them to take appropriate steps for removal of General Thi. If not, he, Ky, would go back to commanding the air force and someone else could be prime minister. He could not go on this way. The generals this morning had wanted to know what I thought. A meeting of all ten generals with Thi present is scheduled for tomorrow, Thursday, morning. He asked my advice.” Xin tạm dịch sang tiếng Việt như sau: “Ông ta (tức là Tướng Kỳ) đã có một buổi họp với tất cả các tướng lãnh sáng nay, trừ Thi (tức Tướng Nguyễn Chánh Thi), Vĩnh Lộc (tức Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Vùng 2) và Quang (tức Tướng Đặng Văn Quang, Tư Lênh Vùng 4), và đã bảo họ là ông muốn chia xẻ với họ cái gánh nặng này, và yêu cẩu họ thực hiện các bước thích hợp cho việc cách chức Tướng Thi. Nếu không, ông ta, Kỳ, sẽ trở về chỉ huy Không Quân, và một người nào khác có thể làm Thủ Tướng. Ông ta không thể tiếp tục như thế này. Các tướng lãnh sáng nay muốn nghe ý kiến của tôi (tức Đại sứ Lodge). Một buổi họp của tất cả các tướng lãnh với sự hiện diện của Tướng Thi đã được sắp xếp cho sáng mai, Thứ Năm. Ông ta hỏi ý kiến của tôi.”

16. Phạm Bá Hoa, sđd, các tr. 201-202 có ghi như sau: “Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt, đến phần bò phiếu kín: “Thuận hay không thuận cách chức Trung Tướng Thi?” Khi kiểm phiếu có 1 phiếu trắng, còn lại đều thuận. Trung Tướng Có, đẩy ghế ra sau, đứng dậy, và lên tiếng: “Trong phòng họp này, chúng ta là những người có trách nhiệm trong Đại Hội Đồng với tư cách thay mặt toàn quân, bỏ phiếu thuận hoặc không, còn phiếu trắng trong trường hợp này là “lưng chừng,” không dứt khoát lập trường. Vậy, ai là người bỏ phiếu trắng nên giải thích cho anh em rõ.” Vừa dứt câu, có tiếng đẩy ghế thật mạnh, tất cả cặp mắt của những vị có mặt gần như đồng loạt quay nhìn, và một người dỏng dạc đứng lên. Đó là Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhảy Dù. “Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, kính thưa quí vị. Tôi là người bỏ phiếu trắng. Trung Tướng Thi đã một thời là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhảy Dù, nên tôi không thể hành động chống Trung Tướng Thi cho dù Trung Tướng Thi có sai trái với quân đội. Tôi vẫn biết rằng, hành động của tôi không làm thay đổi được quyết
định chung cuộc, nhưng tôi vẫn làm vì lẽ đó. Và nếu sau này, có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên, tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và bây giờ, quí vị toàn quyền quyết định về tôi: “Ở lại hay ra khỏi Nhảy Dù, tôi thi hành ngay.” Xin cám ơn.”

17. Lâm Vĩnh Thế, “Tìm hiểu thêm về việc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965,” đăng trong Trang Web Nam Kỳ Lục Tỉnh tại địa chỉ Internet sau đây:

18. “Ambassador Lodge reports on his meeting with South Vietnam’s Prime Minister Ky, who informed Lodge that he met with all of his generals, less Thi, Vinh Loc and Quang, and asked them to take appropriate steps for the removal of General Thi,” trong cơ sở dữ liệu DDRS. Tài liệu này là một công điện mang số 007554 của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ngày 9-3-1966, được giải mật ngày 21-7-1997, 2 tr.


Lâm Vĩnh Thế
Hamilton, Ontario, Canada
05-04-2016