Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2015


ĐỖ BÁ PHƯỚC - NGƯỜI BẠN HIỀN
THEO NĂM THÁNG CUỘC ĐỜI

Ngô Trung Việt

Đỗ Bá Phước (1952-2015)

Với tôi, Phước vẫn thường xuyên hiện diện trong các nẻo đường cuộc sống, không có sự kết thúc, tất cả vẫn là những gì thường xuyên diễn ra. Luồng tâm thức đó đã hoà cùng với cuộc đời, trong những gì công nghệ để lại dấu vết hay trong tâm khảm của những người đã cùng đi với Phước. Mọi việc xảy ra, ngoài những gì hiển hiện bên ngoài chúng ta đã biết tới, còn có những điều không thể hiện ra, nhưng chúng ta có thể cảm thấy, và chính những cái đó là nền tảng chính cho sự phát triển của cuộc sống. Nói về những điều ngầm ẩn này khó, nhưng nhìn xuyên qua các sự tiến triển thăng trầm trong cuộc sống thì chúng ta có thể thấy được cái gì đó của tình yêu và trí tuệ mà Phước đã đem lại cho cuộc sống này.

Sáng suốt của những người theo sát sự phát triển của khoa học công nghệ thế giới là ở chỗ có khác biệt lớn giữa làm khoa học thuần tuý và làm khoa học công nghệ. Và thời đại mới đã tới với sự nhấn mạnh vào khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất chính thúc đẩy thay đổi xã hội. Tuy nhiên cách nghĩ về thay đổi này chưa phải là được tiếp nhận đầy đủ bên trong Việt Nam. Đầu những năm 1990 Phước đã về Việt Nam, nhẹ nhàng, điềm đạm và thanh thản, nhưng cùng với Nhàn và Hoàng, đem lại một cách nhìn nhận mới cho những người làm khoa học trong nước.

Điều gây ấn tượng đầu tiên của Phước với tôi là cách tiếp cận các vấn đề khoa học kĩ thuật rất toàn diện, đầy đủ và có tính chất thực tế. Bất kì ai cùng làm việc cạnh Phước cũng đều cảm thấy sự sâu sắc, cẩn thận, chu đáo, và cách nhìn toàn diện của Phước. Điều đó được thể hiện ngay trong chuyến tới thăm và làm việc cùng với Tiểu ban mã chuẩn chữ Việt thuộc Bộ khoa học công nghệ, của các anh Đỗ Bá Phước, Nguyễn Hoàng và Ngô Thanh Nhàn. Anh Hoàng thì tôi đã được biết mấy lần cùng những điều mới mẻ anh nói tới khi anh tới thăm Viện Tin học, còn anh Nhàn thì được biết tên qua những bài viết và nghiên cứu của anh về chữ Việt trên máy vi tính. Hồi đó tôi làm việc ở Viện Tin học nhưng có tham gia các hoạt động về xây dựng bộ mã chuẩn 8-bit cho chữ Việt, dưới sự điều hành của anh Trần Lưu Chương.

Viện Tin Học, Hà Nội 1999
Tác giả Ngô Trung Việt (bìa trái) và anh Trần Lưu Chương (đứng giữa)

Mục đích của buổi làm việc là các anh Nhàn-Phước-Hoàng trình bày về một bài báo đề nghị một cách mã hoá cho chữ Việt trong khuôn khổ 8-bit. Bài báo này đề nghị 3 bảng mã cho chữ Việt đáp ứng được cho nhiều mục đích khác nhau, kể cả một mục đích là cho phép dùng kĩ thuật tổ hợp hình chữ, ghép dấu thanh với kí tự để tạo các dạng chữ Việt có dấu đầy đủ, ngoài các mục đích là biểu diễn đầy đủ thấy ngay chữ Việt và giữ nguyên các vùng mã điều khiển để cho các hệ phần mềm có trên máy 8-bit làm việc được. Sự độc đáo của đề nghị này là ở chỗ khi đặt chồng ba bảng mã này lên nhau, chúng ta thu được bảng mã tối thiểu mà dùng kĩ thuật tổ hợp có thể tái tạo được mọi chữ Việt. Tôi thấy đồng ý ngay với đề nghị độc đáo này, vì trong nước có rất nhiều nơi đề nghị các loại bảng mã mà không thể thống nhất hay thừa nhận lẫn nhau được. Lí do đơn giản là mạnh ai nấy làm, và chưa có lực lượng người làm phần mềm hỗ trợ.

Cả tiểu ban mã chuẩn chữ Việt cũng đồng ý với đề nghị này và chúng tôi nhanh chóng chuyển nó thành đề nghị của tiểu ban. Tiểu ban hoàn thành nhiệm vụ về mặt khoa học của mình sau khi đạt được một sự thống nhất về bảng mã đó. Nhưng với quan điểm của Nhàn-Phước-Hoàng, công việc tiến triển sang khía cạnh khác. Cái nhìn sâu của người bên ngoài nước là một đề nghị giải pháp khoa học phải vượt ra ngoài góc độ khoa học để tác động tới thực tế thì mới có giá trị thực tế. Đây cũng là điều tạo nên khác biệt giữa việc phát triển khoa học thuần tuý và việc phát triển khoa học công nghệ, điều đòi hỏi nhiều nỗ lực và hiểu biết hơn để chuyển từ ý tưởng thành hiện thực. Phước, một người làm việc nhiều năm với Unicode cùng Nhàn và Hoàng đặt vấn đề cần đưa đề nghị này thành chuẩn quốc gia thì mới mong có sự hỗ trợ của các công ti tin học quốc tế, trong hoàn cảnh lực lượng công nghệ trong nước còn yếu.

Những điều đó là những hướng dẫn để chúng tôi tiến hành các thủ tục với Trung tâm tiêu chuẩn Việt Nam, và sau một vài năm làm việc, bộ mã chuẩn tiếng Việt TCVN 5712 đã được ban hành. Những lúc khó khăn nhất khi có trục trặc chưa đạt tới đồng thuận để ban hành, Phước đã nói với tôi "Tất cả là tuỳ ở bạn. Làm bây giờ hay không bao giờ." Có nghĩa là nếu chúng ta không dấn lên để làm, sẽ không còn dịp nào để làm nữa. Phước-Nhàn-Hoàng thấy được tầm quan trọng của vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ làm nền tảng cho những phát triển công nghệ thế giới có thể giúp cho Việt Nam, nhất là việc làm cho chữ Việt Nam có trong máy tính thời đó và trong CNTT nói chung.

Đứng ở góc độ nhìn toàn thể sự phát triển của khoa học công nghệ những năm 1990, Phước-Nhàn-Hoàng tiếp đó đã đề nghị đưa chữ Nôm và chữ Chăm vào Unicode. Quả thật lúc đó tôi cũng như nhiều người khác mới chỉ quan tâm tới chữ quốc ngữ còn thì chữ Nôm và chữ Chăm, và nói chung các thứ chữ khác đều chưa quan tâm tới. Nhưng khi được các bạn hiền chỉ cho các chiều rộng lớn hơn của sự phát triển đang diễn ra, tôi hiểu thấu nhiều hơn câu nói của Phước "Tất cả là tuỳ ở bạn. Làm bây giờ hoặc không bao giờ." Mọi việc thế giới đang diễn ra như một con tàu chạy qua, mọi sự tuỳ ở chúng ta đuổi theo để đi cùng hoặc không bao giờ có việc đó nữa khi con tàu chạy qua rồi. Do đó phải học thêm, phải biết thêm những điều mình không biết để đáp ứng cho yêu cầu của thực tế. Một thực tế sôi động đang diễn ra trên thế giới mà nếu chỉ như các quan chức thông thường nhìn cục bộ vào phạm vi nhỏ hẹp trăm nghìn việc hàng ngày thì bao giờ cũng sẽ bị tụt hậu so với thế giới.

Không nói nhiều, nhưng bằng việc làm cụ thể Phước đã có đóng góp rất lớn cho việc tạo nền tảng các chữ Việt ngày nay được thể hiện trong mọi máy tính. Điều cơ bản mà Phước-Nhàn-Hoàng nhấn mạnh sau một đề nghị giải pháp kĩ thuật là phải có giải pháp tổ chức, phải làm sao đẩy được bộ máy trong nước chạy nhịp nhàng với các tiến bộ công nghệ trên thế giới. Nói cách khác, làm sao đưa những điều chỉ là các vấn đề khoa học công nghệ thuần tuý thành những vấn đề có tính chất thực tế và làm cho nhiều người khác, nhiều tổ chức khác cùng tham gia thúc đẩy. Và qua đó làm cho nhiều người trong Việt Nam tiếp cận được với những tiến bộ công nghệ mới trên thế giới và tham gia cùng với nó chứ không phải chỉ là kẻ đi sau thụ hưởng kết quả công nghệ.

Việc tham dự các hoạt động chuẩn hoá quốc tế là cần thiết để cho chữ Việt Nam có mặt trong các bộ kí tự quốc tế. Điều này không mấy người trong nước vào thời đó, và ngay cả ngày nay, hiểu được là cần thiết và quan trọng thế nào. Do đó trong thời kì đầu tham gia các hoạt động chuẩn hoá công nghệ thông tin thế giới, phần lớn đó là những nỗ lực cá nhân để tham gia dưới danh nghĩa Ban kĩ thuật công nghệ thông tin của Việt Nam. Chỉ khi chương trình công nghệ thông tin quốc gia được thành lập thì mới có một phần ngân sách dành cho các hoạt động chuẩn hoá quốc tế này.

Nhưng cách nhìn của Phước và Nhàn còn vượt xa hơn để giải quyết vấn đề một cách toàn diện hơn. Trong một lần đi họp cuộc họp của WG2 bàn về việc đăng kí kí tự đồng Việt Nam cho Unicode và đề nghị mã hoá chữ Nôm và chữ Chăm, Phước nói với tôi "Tôi thấy tham gia hoạt động quốc tế là tốt nhưng chưa đủ. Vấn đề là người dùng phải có phần mềm dùng thì mới được. Mà trong nước chắc còn dùng phần mềm của các công ti quốc tế nhiều. Vậy phải làm sao để các công ti quốc tế làm các phần mềm giúp chúng ta, tức là phải đưa các kí tự của chúng ta vào các bảng mã của họ." Thế là tôi và Phước quyết định cùng nhau bay lên đại bản doanh của Microsoft tại Redmon để tìm cách làm việc với Microsoft về bảng mã chữ Việt. Kết quả chuyến đi là chúng tôi đã thảo luận với Derek của Microsoft về việc Microsoft xây dựng bộ mã cho chữ Việt, và như chúng ta biết, đã có bảng mã CP 1258 của Microsoft cho tiếng Việt, về căn bản dựa trên đề nghị mã hoá của Phước-Hoàng-Nhàn mà đã được biến thành TCVN 5712.

Tiếp đó chúng tôi làm việc với đại diện của IBM để họ xây dựng bảng mã của họ cho tiếng Việt, và điều đó cũng thành hiện thực với bảng mã CP 1129 của IBM cho chữ Việt. Các kết quả này được giới thiệu với nhóm công nghệ thông tin đa ngữ của Nhật Bản với một ý định về xây dựng bộ mã 8-bit cho chữ Việt theo kiểu họ bộ mã quốc tế 8859, và họ thấy thú vị và quan tâm. Sau đó khi Nhật Bản làm chủ tịch SC2, ông chủ tịch người Nhật đã đặt vấn đề với tôi về Nhật ủng hộ Việt Nam xây dựng bộ mã 8 bit cho chữ Việt theo kiểu bộ mã 8859. Tôi đã thảo luận với Phước và quan điểm của Phước là "Làm gì thì cũng phải có người quan tâm làm. Bây giờ thế giới chuyển sang 16 bit rồi, làm mã 8 bit chỉ được cái tiếng nhưng không ai dùng, không công ti nào ủng hộ thì làm để làm chi?" Thế là chúng tôi chân thành cám ơn nhã ý của phía Nhật và không nêu vấn đề này ra nữa.

Không chỉ vậy Phước-Nhàn-Hoàng trao đổi thêm về việc phải có sự thống nhất sử dụng bộ mã chuẩn trong nước để làm cơ sở cho các phát triển ứng dụng tin học đang diễn ra. Ý kiến này được tiểu ban chuẩn của chương trình công nghệ thông tin quốc gia, dưới sự lãnh đạo của anh Chương ủng hộ và được anh Diệu coi là quan trọng. Từ đó đi tới quyết định đầu tư cho một nhóm làm phần mềm phát triển bộ phần mềm xử lí văn bản ABC dựa trên TCVN 5712. Lực lượng làm phần mềm trong nước bắt đầu được khuyến khích đi theo hướng chuẩn hoá và các cơ quan nhà nước được yêu cầu thống nhất sử dụng bộ phần mềm này. Đây là những hoạt động hướng tới việc thúc đẩy sự phát triển của lực lượng làm phần mềm trong nước cũng như thống nhất hoá dần việc sử dụng phần mềm theo chuẩn.

Quay trở lại nói về chữ Nôm, vì thực ra trong Unicode thì vấn đề mã hoá cho chữ quốc ngữ không còn gì phải bàn nữa, mọi thứ đã có sẵn, Phước nói với tôi, "Bây giờ chúng mình làm mã hoá cho chữ Nôm đi." Tôi trố mắt ra, "Mình có biết chữ Nôm nào đâu, mà nó cổ rồi, có ai dùng đâu, bỏ đi rồi mà." Phước nháy mắt nói, vẫn cái giọng hóm hỉnh "Nhưng mà nó là chữ của Việt Nam." Tôi giật mình, thôi chết, từ lâu mình cứ nghĩ nó là tử ngữ, nó là của Trung Quốc, nhưng thực sự nó là của ông cha chúng ta đã dùng, đã biến hoá cách viết của người Trung Quốc thành cách viết của Việt Nam chứ đâu phải của Trung Quốc. Nhàn thủng thẳng thêm, "Chính là các thế lực thực dân mới muốn người Việt Nam quên gốc rễ văn hoá, xoá bỏ chữ Hán Nôm. Thế rồi hệ thống giáo dục thấy chữ quốc ngữ tiện lợi và không hề nhắc tới việc dân tộc ta có hai thứ chữ viết cần trân trọng. Chữ Nôm là cầu nối với quá khứ của dân tộc, không đọc được thì cũng không biết tỏ tường các vết tích văn hoá lịch sử còn lại. Nếu chúng ta không quyết liệt bây giờ thì bao giờ?" Quan niệm về chữ Nôm khi được hiểu là của chúng ta đem lại cho tôi cách nhìn khác, thân thiết và có trách nhiệm hơn với cái vô minh trước đây của mình về chữ biểu ý này. Thế là tôi bắt đầu cuộc hành trình mã hoá chữ Nôm cùng với Nhàn và Phước và nhiều người nữa, nhưng không nghĩ được rằng nó gian nan thế. Từ lúc bắt đầu năm 1994 tới nay đã hai chục năm trôi qua mà nhiều việc thấy cần làm vẫn còn đầy ra đấy. Nhưng mọi sự đều phải bắt đầu từ những việc nhỏ bé.

Sau cuộc họp tại Hawaii mà Phước và Nhàn tham dự với nhóm chữ biểu ý để chuyển từ nhóm CJK (viết tắt China-Japan-Korea) thành nhóm IRG, Phước và Nhàn đề nghị Việt Nam đứng ra làm nước chủ nhà cho cuộc họp thứ 2 của nhóm IRG mới thành lập, coi như sự bắt đầu của Việt Nam tham gia quá trình chuẩn hoá CNTT thế giới. Tôi bắt đầu tham gia các cuộc họp quốc tế này, và các cuộc họp quốc tế khác của nhóm WG2 liên quan tới việc đưa chữ Nôm vào Unicode. Lúc đầu dự họp thật khó khăn, nghe tiếng Anh còn chưa quen, vấn đề về chữ biểu ý thì không rành, người trong nước thì không hiểu và coi là việc không cần thiết. Nhưng vấn đề thành rõ ràng, nếu chúng ta không tham gia các cuộc họp quốc tế thì không ai đứng ra bảo vệ quyền lợi và chỗ đứng của chữ Nôm trong Unicode và ISO 10646.

Công việc về chữ Nôm bắt buộc phải có các chuyên gia vừa am hiểu chữ Nôm vừa am hiểu công nghệ thông tin, điều này đưa tới việc kết hợp tri thức chuyên gia của nhiều người từ hai mảng khác nhau: chữ Hán Nôm và công nghệ thông tin. Thách thức mới nảy sinh là làm sao tổ chức cộng tác được các chuyên gia không quen biết gì nhau để cùng làm việc chung. Lực lượng chuyên gia Hán Nôm và chuyên gia tin học tại viện Hán Nôm được huy động cùng tham gia quá trình chuẩn hoá với các tài trợ tới từ chương trình công nghệ thông tin quốc gia. Lực lượng công nghệ trong nước phải trưởng thành để tiếp nhận những kĩ thuật xử lí font và mã mà quốc tế và Unicode đưa ra và để đi theo kịp việc xây dựng Unicode. Nhưng các công ti tin học trong nước phần lớn tập trung vào kinh doanh và đáp ứng nhu cầu hiện đại, hầu như không có công ti nào làm về mã và font. Điều đó đặt ra tình huống cần phải xây dựng các nhóm chuyên viên trẻ để tiếp nhận công nghệ và kĩ thuật mới.

Nhàn dấn thân vào việc hình thành và xây dựng lực lượng này, nhấn mạnh một điểm quan trọng là có mã rồi phải có font thì máy tính mới hiển thị được chữ Hán Nôm, bằng không, các phần mềm vẫn chưa thể xử lí được. Nhàn đi sâu vào chỉ đạo một nhóm chuyên viên trẻ phát triển và xây dựng bộ font Nomnatong cho các chữ Nôm đã được đưa vào Unicode cũng như các chữ mới đang chờ được đưa vào tiếp. Phước hăng hái giới thiệu các kĩ thuật xử lí mã thay thế (surrogate) đối với các kí tự được mã hoá ở các mặt phẳng bên ngoài mặt phẳng đa ngữ cơ bản BMP. Tôi cũng cùng tham gia với Nhàn vào công việc này, và cũng học tập được rất nhiều kinh nghiệm xây dựng font từ Đỗ Quốc Bảo, người đã phát triển các bộ font Han Nom A-B. Các kĩ thuật xử lí surrogate được dùng hữu hiệu để phát triển các bộ font bên ngoài mặt phẳng đa ngữ cơ bản BMP. Tiếp đó Nhàn cùng Phước đặt vấn đề khuyến khích các thanh niên tham gia phát triển phần mềm gõ chữ Nôm.


Công đoạn mã hóa chữ Nôm cổ để có thể gõ máy tính
hiển thị chữ Nôm bằng nhiều loại font khác nhau
 Rồi đến khi web phát triển, nhu cầu hiển thị chữ Hán Nôm trên web trở thành quan trọng, trong khi các bộ font chữ Hán Nôm vừa lớn vừa chưa được phổ biến. Phước đã đi tiên phong trong việc dùng kĩ thuật SVG để tạo ảnh cho các chữ Hán Nôm cho phép hiển thị trên trang web mà không cần cài đặt bộ font nào. Tôi luôn hình dung thấy Phước cặm cụi mỗi lúc lại đưa ra một điều mới để phổ biến cho mọi người mỗi khi có những tiến bộ mới, điều mà tôi ngồi trong nước chả thể nào biết được. Vấn đề rõ dần ra là với mọi kiểu chữ viết, mã hoá trong máy tính là một phần cơ bản, nhưng tiếp đó phải phát triển font, phải phát triển chương trình gõ chữ thì mọi người mới dùng được. Rồi trên cơ sở đó mới nói tới chuyện các hệ phần mềm ứng dụng khác đáp ứng cho nhu cầu truy nhập và xử lí các vốn văn hoá cổ.

Một điều nữa Phước Nhàn và tôi hay nói chuyện với nhau và thấy ra vấn đề với việc mã hoá các chữ viết trong Unicode là tri thức chuyên gia của các chuyên gia ngôn ngữ và văn hoá trong nước không đủ đáp ứng được cho đòi hỏi cao của các nhóm làm việc quốc tế trong Unicode cho nên các đề nghị của mình với tổ chức quốc tế nhiều khi không được chấp nhận. Trong hoàn cảnh này chúng tôi thấy phải tận dụng năng lực và uy tín của các chuyên gia quốc tế thì mới có thể giúp cho quá trình đưa chữ viết của Việt Nam vào Unicode. Điều đó được áp dụng cho hoàn cảnh các chữ dân tộc Chăm và chữ dân tộc Thái của Việt Nam.

Dự thảo đầu tiên về đưa chữ Chăm của Việt Nam vào Unicode do Nhàn đề xuất và đã trình cho cuộc họp của WG2 từ năm 1994 và được treo đó. Chúng tôi đã cộng tác với các chuyên gia chữ Chăm cả trong lẫn ngoài nước để thu thập thông tin và cách cấu tạo chữ Chăm rồi đặc biệt đề nghị một chuyên gia quốc tế về chữ viết theo họ chữ Brahmic (Ấn Độ), Michael Everson, làm chủ trì cho dự án về chữ Chăm. Sau 13 năm đeo đuổi, chữ Chăm đã được đưa vào Unicode năm 2007.

Dự thảo đầu tiên về đưa chữ dân tộc Thái của Việt Nam vào Unicode do anh Cầm Trọng và tôi đề nghị với nhóm làm việc WG2 cũng bị treo lại. Lí do là vì bộ chữ đề nghị là chữ Thái cải tiến của nhóm anh Cầm Trọng, không được đông đảo người dùng và chuyên gia quốc tế chấp nhận. Các cuộc hội nghị về mã hoá chữ dân tộc Thái trong các năm 2005-2006 với sự tham gia và tổ chức của Phước và đặc biệt mời Jim Brase, một chuyên gia về các chữ Thái của Việt Nam (tên quốc tế gọi là chữ Tai), làm người phụ trách soạn thảo, đã quay về với bộ chữ Thái cổ truyền và được đề nghị cho WG2 cuối cùng cũng đưa tới kết quả là chữ Thái của Việt Nam được đưa vào trong Unicode năm 2007.


Đi họp với Working Group WG2 của ISO/IEC tại Mỹ, năm 2009
 Việt Nam nằm tại điểm hợp lưu của nhiều luồng văn hoá, cho nên cũng đã xuất hiện đủ ba loại chữ viết lớn trên thế giới ở Việt Nam: chữ biểu ý, chữ theo dòng Brahmic (chữ Ấn Độ) và chữ latin. Chữ của dân tộc Thái và chữ của dân tộc Chăm ở Việt Nam đại diện cho luồng văn hoá chữ viết du nhập từ phía Tây (Ấn Độ) vào. Chữ Hán Nôm thì ai cũng rõ là sáng tạo của ông cha chúng ta để cải biên chữ Hán (du nhập từ phía Bắc) cho biểu diễn tiếng Việt. Và chữ quốc ngữ là việc mượn cái vỏ chữ latin để biểu diễn cho tiếng Việt được du nhập vào từ phương Đông theo đường tầu biển.

Điều khá thú vị là nếu chúng ta nhìn vào các từ điển xưa của Huỳnh Tịnh Của hay các tài liệu từ thời đó, sẽ thấy một số kí tự chữ dân tộc Thái Việt Nam còn được ghi lại để biểu diễn cho cách nói của người Việt. Dựa trên sự kiện này có một số suy đoán rằng có thể dạng chữ Thái Việt Nam là chữ Việt cổ, có từ thời Hùng Vương. Có người còn bỏ rất nhiều công sức để phục dựng và tạo dạng cho cách viết tiếng Việt bằng việc dùng các con chữ Thái cổ được cải biên. Tuy nhiên hiện chưa có bằng chứng khai quật lịch sử nào hỗ trợ cho mong ước về một loại chữ cổ như vậy.

Nhìn lại những sự việc đã xảy ra và những kết quả đọng lại trong Unicode đều thấy nổi lên trí tuệ và niềm say mê của Phước phảng phất đâu đây. Ngồi nói chuyện với nhau, Phước có lần nói, "Công nghệ có nhiều phát triển mới, mình làm sao làm cho công nghệ hỗ trợ được cho văn hoá dân tộc thì cũng là điều tốt." Tôi cũng đồng ý với điều này vì thực sự mình không tham gia vào các hoạt động kinh doanh công nghệ, thì mình có thể làm việc chuẩn bị nền tảng cho vốn văn hoá dân tộc rồi đây sẽ được công nghệ hỗ trợ để phổ cập cho mọi người. Công việc chuẩn bị đường, vạch lối cho những phát triển về sau nhiều khi phải được nghĩ tới, tính tới từ nhiều năm trước.

Qua những việc đã xảy ra, đã được làm, đã có kết quả trong một thời kì nào đó, tôi chợt nhận ra là Phước không phải chỉ là một chuyên gia giỏi về công nghệ, hình như Phước còn có phẩm chất bẩm sinh của người lãnh đạo để kết hợp được nhiều người cùng làm việc. Vì hai phẩm chất cơ bản nhất của người lãnh đạo là tạo ra viễn kiến mới và làm hứng khởi mọi người khác cùng làm theo Phước đều có cả. Vẫn cách nói nhỏ nhẹ, chậm rãi nhưng khắc vào lòng người những điều sẽ xảy ra và từ đó hình thành nên cái gì phải làm, và sự thôi thúc cùng chung tay vào một cái gì đó tạo thành đợt sóng để rồi còn để lại các dấu ấn về sau. Phước cho tôi một hình ảnh rất đẹp về một con người khiêm nhường nhưng đầy hiểu biết, mạnh dạn tiến lên làm người lãnh đạo qua các viễn kiễn và tính thuyết phục của mình. Hoàn thành xong việc rồi lặng lẽ ra đi như không việc gì xảy ra. Con người đó chân chính ở chỗ khi thấy hoàn cảnh yêu cầu thì tự gánh vác và giải quyết vấn đề. Làm xong lại bước xuống, nhường chỗ cho những người khác có khả năng bước lên giải quyết vấn đề khác. Người lãnh đạo thực sự không phải là vì họ ở chức vụ nào đó mà là vì năng lực và tấm lòng của họ. Không có chuyện người làm, đó chỉ là những điều cuộc sống muốn thực hiện qua chúng ta, chúng ta chỉ là những thành phần tham gia vào sự sáng tạo vĩ đại này.

Những việc cần làm ở giai đoạn hình thành nên Unicode dần qua đi, những điều mới xuất hiện lại đưa Phước vào những hoạt động mới. Nhìn vào thực tại phát triển công nghệ trong Việt Nam, Phước nói một nhận xét với tôi, "Tôi thấy các công ti ở Việt Nam làm việc chưa được bài bản, làm sao để cho mọi người biết cách phối hợp làm việc với nhau thì mới theo được với thế giới." Chắc cũng từ nhận xét đó mà Phước đã cùng một số anh chị khác nêu ra sáng kiến tổ chức các khoá đào tạo công nghệ thông tin, IT Boot Camp cho những người đang làm việc trong các tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam. Anh Hoàng, anh Hà Dương Tuấn, anh Tiến, anh Thịnh, anh Khánh, anh Hiển, nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực cũng cùng tham gia vào hoạt động đào tạo và phổ biến các tri thức công nghệ và kĩ nghệ này cho lực lượng phát triển CNTT ở trong nước.

Phước tham gia việc hoạch định và tổ chức đưa các tri thức mới vào Việt Nam. Tôi thấy rất thú vị ở những bài trình bày của Phước, vì nó hoàn toàn đi ra khỏi cách giảng dạy truyền thống. Nó là những bài luyện trực tiếp, các trò chơi, các vấn đề mà người học phải làm và tự rút ra những kết luận cần thiết cho mình về cách tổ chức làm việc thế nào. Tôi lờ mờ cảm thấy một cái gì đó mới trong phương pháp giảng dạy, nhưng hồi đó không hình dung ra được là gì. Mãi cả chục năm sau tôi mới ngày càng thấy rõ phương pháp dạy và học mới này, mà bây giờ đã khá phổ biến ở các nước tiên tiến: Học qua hành. Từ những vấn đề rất kĩ thuật của khoa học công nghệ, giờ Phước lại thể hiện những vấn đề mới của tổ chức và quản lí. Tôi hiểu đây là đòi hỏi mới của người làm công nghệ, người ta không thể chỉ là người công nghệ thuần tuý được nữa, người ta còn phải là người lãnh đạo và quản lí những người khác cùng cộng tác trong các hoạt động tri thức. Và nếu trong doanh nghiệp, đòi hỏi thực tế là người ta phải được trang bị thêm các tri thức về doanh nghiệp thì lúc đó mới đáp ứng được yêu cầu mới của thời đại: con người công nghệ và doanh nghiệp.

Đào tạo cho doanh nghiệp lúc đó là cần thiết vì nhiều người làm việc ở các công ti công nghệ ở Việt Nam chỉ được đào tạo ở đại học với vốn tri thức chuyên môn thuần tuý, và nhiều khi còn chậm sau thế giới nhiều năm, cần được đào tạo cách làm việc theo kĩ nghệ, theo qui trình. Nhưng việc đào tạo này chỉ có thể được tiến hành nếu có đầu tư và sự quan tâm của các công ti, mà các công ti thì lại dần không mặn mà với việc đào tạo nữa vì tình trạng mất người và nhảy việc của nhân viên cũng như tình trạng săn đầu người của các công ti khác. Thời gian này tôi không cùng làm việc nhiều với Phước nữa, nhưng theo dõi những việc Phước làm, tôi cảm nhận rõ là Phước có ý định chuyển giao những hiểu biết về doanh nghiệp công nghệ cho người Việt Nam bằng việc trực tiếp tham gia vào các công ti đang hoạt động tại Việt Nam. Chính qua điều này mà những người làm việc với Phước sẽ được chuyển giao các tri thức và kinh nghiệm tốt nhất.

Bây giờ chúng ta lại đang đứng trong một giao thời mới, bước chuyển từ các vấn đề của công nghệ máy móc sang các vấn đề của sự cộng tác tri thức giữa những con người tri thức trong các tổ chức tri thức, xã hội tri thức. Những việc làm trước lúc ra đi của Phước làm hé lộ ra chiều hướng phát triển mới này và là điều chúng ta cần cảm nhận để chia sẻ cùng Phước những băn khoăn và trăn trở với dân tộc trong thời kì phát triển mới. Tri thức và tài năng sẽ trở thành nguồn lực chính mà các công ti và quốc gia trên thế giới ra sức chiếm giữ. Trong bối cảnh đó, những người tài sẽ hướng tới những nơi cung cấp cho họ hoàn cảnh làm việc và cuộc sống thuận lợi nhất. Các nước đang phát triển làm sao có thể khai thác được nguồn tài năng và tri thức của mình để phát triển lên được? Mọi xu hướng đang dồn vào việc làm sao có thể phát huy tài năng trí tuệ của quốc gia và biến thành sức mạnh vật chất. Điều này chuyển sang vấn đề phát triển những công nhân tri thức mới, thay đổi và cải cách căn bản giáo dục đào tạo, gắn chặt phát triển công nghệ cao, kinh tế với đào tạo toàn xã hội. Chính những việc làm của Phước cho phép hình dung ra sự phối hợp giữa công nghệ và doanh nghiệp và giáo dục để hình thành nên những lực lượng lao động tri thức trong tương lai.

Nhìn lại những chặng đường qua, mọi thứ đã đến rồi đã đi, cái còn lại vẫn là một người bạn hiền, Đỗ Bá Phước, một niềm say mê, một trí tuệ bao quát toàn diện, và cứ thế lặng lẽ tiến hành mọi việc cần thiết, làm sao có lợi cho chữ Việt, cho người Việt. Cuộc sống đơn giản vậy thôi, và tôi nghĩ chắc Phước cũng thấy hài lòng vì đã làm hết mình, đáp ứng mọi đòi hỏi của hoàn cảnh, để đi hết những năm tháng cuộc đời mình.

Ngô Trung Việt


Trong nhóm tham gia phong trào đòi Mỹ rút quân chấm dứt chiến tranh
Phước là người trẻ tuổi nhất hăng hái tham gia
Lại cố gắng bồi bổ tiếng Việt vì bước chân tới Mỹ với tuổi đời còn quá nhỏ
Lúc nào cũng vui vẻ làm tất cả mọi chuyện, từ nhỏ đến lớn
Không thấy lớn tiếng, dù khó lòng không có lúc bực mình.
Bởi vì chàng trẻ tuổi hình như lúc nào cũng vui, luôn với nụ cười ngày ấy, vẫn không khác gì trên tấm hình mới chụp ở Phú Quốc, do một người bạn gửi, hai tay cầm hai trái dừa.
Sau chiến tranh, Phước tham gia nhiều chuyện khó mà kể hết.
Giúp chàng Cooperman, giúp nàng Ladinsky đẩy mạnh hợp tác khoa học Việt Mỹ
Mở đường cho bình thường hóa ngoại giao
Hợp tác với Nhàn, Hoàng làm chuẩn chữ Nôm, bảo tồn vốn cổ
Cùng với Ánh và các bạn mở VNhelp kiếm quĩ giúp học sinh nghèo
Và khi mọi người vẫn đang nghĩ đến về quê
Thì Phước về quê
Bây giờ thì Phước về quê thật
Vĩnh viễn
Như ngôi sao vụt tắt
Những ngôi sao trên trời có tuổi hàng tỷ năm
Cũng lấp lánh rồi biến
Ngôi sao Phước, tuổi đời nhỏ hơn nhiều, cũng tắt
Đó là lẽ tự nhiên
Vài hàng ghi lại lấp lánh của ngôi sao bạn

Vũ Quang Việt



Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015


BỐN DẤU ẤN CỦA HIỆN HỮU
(What Makes You Not A Buddhist)

Lạtma Dzongsar Jamyang Khyentse
Hoang Phong dịch


Bốn dấu ấn của hiện hữu, Phạn ngữ gọi là caturlaksana, Pà li ngữ là caturlakkhana, hoặc còn gọi là Dharma mudra. Các kinh sách Hán ngữ tương đối ít đề cập đến khái niệm này, tuy nhiên trong tập Luận Địa Trì cũng có nhắc đến bốn dấu ấn và gọi là Tứ Ưu Đàn-na, chữ Đàn–na do chữ Mudra trong tiếng Phạn mà ra, chữ này có nghĩa là “biểu tượng” hay “dấu ấn”. Sở dĩ gọi là bốn dấu ấn vì đó là những “con dấu” dùng để chứng nhận một người Phật tử đích thực khi đã hiểu được Phật pháp là gì.
Bốn dấu ấn là:
1- Tất cả hiện tượng hình thành từ các điều kiện đều vô thường
2- Tất cả những gì giả hợp đều là khổ đau
3- Tất cả mọi hiện tượng đều không có cái ngã
4- Niết bàn là an tịnh

Cách định nghĩa các dấu ấn cho thấy có một vài khác biệt thứ yếu tùy theo kinh sách hay tông phái, các khác biệt ấy sẽ được lần lượt trình bày trong phần giải thích tiếp theo đây. Tuy nhiên, một vài học phái Tây Tạng chỉ nêu lên ba dấu ấn (tiếng Phạn: trilaksana, tiếng Tây Tạng: phyag– rgya gsum), nhưng không quan tâm đến dấu ấn thứ tư là Niết – bàn, và cũng không sắp xếp theo thứ tự thường thấy:
Tất cả mọi hiện tượng (dharma) đều không có tự ngã.
Tất cả mọi hiện tượng giả hợp đều vô thường.
Tất cả mọi tạo nghiệp (samskra) mang tính cách giả hợp đều là khổ đau.

Bốn dấu ấn trình bày trong tập Luận Địa Trì nêu lên rất đúng với ý nghĩa thường thấy về bốn dấu ấn:
Nhất thiết hành vô thường
Nhất thiết hành khổ
Chư pháp vô ngã
Niết bàn tịch diệt.

Tóm lại, bốn dấu ấn trình bày trên đây là những gì đặc thù của Phật giáo, có thể nói đấy là những sự thực tuyệt đối mà Đức Phật đã nêu trong giáo pháp của Ngài, bao hàm cả các lãnh vực triết học, khoa học và tín ngưỡng. Hành vi quy y mang tính cách nghi lễ nhiều hơn là tu tập, ngũ giới thì biến dạng, thật khó nắm bắt và cũng không hẳn là những đặc thù của Phật giáo, vì thế bốn dấu ấn mới đích thực là những gì có thể dùng để xác nhận một Phật tử. Vậy thật sự ý nghĩa của bốn dấu ấn là gì?

1. Dấu ấn thứ nhất: Tất cả mọi hiện tượng đều vô thường (Aniya sarva samskarah)



Hiện tượng ở đây có nghĩa là tất cả mọi vật thể, mọi biến cố, gồm cả tư duy, xúc cảm hoặc tất cả những gì mà ta có thể hình dung hay tưởng tượng được, kể cả không gian và thời gian…, tiếng Phạn gọi chung tất cả những hiện tượng ấy là dharma, kinh sách gốc Hán dịch là pháp. Cũng cần chú ý khi chữ Dharma viết hoa thì lại có nghĩa là Phật pháp. Tất cả mọi hiện tượng, tức các pháp, đều có tính cách cấu hợp và được tạo tác dựa vào thật nhiều điều kiện. Điều kiện đổi thay, vạn pháp biến động. Những biến động đó tạo ra sự sinh và hình thành, sự tan rã hay cái chết. Mọi sự hiện hữu, tức mọi hiện tượng cấu hợp không mang tính cách độc lập, chúng đều lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác, vì thế chúng không thể nào tự duy trì một cách vững bền được, do đó nhất thiết chúng là vô thường. Bản chất không độc lập và lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác của tất cả mọi hiện tượng, trong đó kể cả cái ta, Phật pháp gọi là vô ngã.

Chúng ta sống với những cảm nhận sai lầm về bản chất của hiện thực, dựa vào những cảm nhận và những diễn đạt lệch lạc của cảm giác, chi phối bởi ảnh hưởng của xúc cảm và bản năng. Những sai lầm và lệch lạc đó, chẳng hạn như không cảm nhận được hiện tượng vô thường, Phật pháp gọi là vô minh.

Một vài kinh sách còn xác định dấu ấn thứ nhất như sau:
Tất cả mọi chuyển động đều vô thường. Chữ chuyển động không nhất thiết chỉ định những chuyển động vật chất mà thôi mà còn bao gồm tất cả những thể dạng tâm thần gồm tư duy và xúc cảm. Chuyển động cũng là bản chất của năng lượng, của các làn sóng đủ loại, của cả những hạt vi thể thuộc lãnh vực vật lý lượng tử làm căn bản cho vật chất, những chuyển động ấy tạo ra hình tướng và mọi loại biến cố. Khi đã là chuyển động thì nhất thiết chúng phải mang tính cách nhất thời và giai đoạn, tức có nghĩa là vô thường, và nhất thiết bản chất của vô thường là khổ đau.

Kinh A–hàm có nêu như sau:
Tất cả muôn vạn chuyển động đều là vô thường, là khổ đau và vô ngã; Niết- bàn là thanh tịnh.
Câu phát biểu trên đây cũng là một cách tóm tắt về ý nghĩa của bốn dấu ấn. Trong một đoạn khác, kinh A-hàm cũng nêu lên bản chất của sự chuyển động nơi mọi hiện tượng:
Tất cả mọi chuyển động đều vô thường
Bởi vì chúng lệ thuộc vào sự sinh và sự tan biến
Khi nào sự sinh và sự tan biến chấm dứt
[Thì] sự tắt nghỉ sẽ trở thành niềm hạnh phúc và an tịnh”.
Tuy rằng vô thường là khổ đau, nhưng vô thường cũng hàm chứa một niềm hy vọng, tức là sự biến cải. Nhờ có sự biến cải mà thể dạng thiếu tỉnh thức hay vô minh của ta ngày hôm nay mới có thể xóa bỏ được ngày mai trên con đường tu tập Phật pháp.

2. Dấu ấn thứ hai: Tất cả những gì giả hợp đều là khổ đau (Dukkhah sarva samskarah)



Chữ giả hợp trong trường hợp này có nghĩa là những cấu thành tạm thời, lệ thuộc vào điều kiện, tức mang tính cách giả tạo và không độc lập. Sách nghiên cứu Phật học Tây phương dùng các chữ như corrupted hay crrompu để dịch chữ này, tiếng Tây Tạng thì dùng chữzagché có nghĩa là ô nhiễm hay dính bẩn, vì thế dấu ấn thứ hai cũng có thể định nghĩa là:tất cả những gì ô nhiễm đều là khổ đau. Ngoài ra cũng có một số kinh sách và tài liệu xác định dấu ấn thứ hai như sau: Tất cả mọi xúc cảm đều là khổ đau. Xúc cảm có nghĩa là những dao động trong tâm thức, phát sinh từ sự hoang mang và cách hiểu biết nhị nguyên. Sở dĩ mạo muội dông dài về phương diện thuật ngữ như trên đây là nhắm vào mục đích chứng minh ngôn từ đã nắm giữ một vai trò khá phức tạp trong việc trình bày và tìm hiểu  một khái niệm, nếu không thấu triệt tính cách quy ước của ngôn từ sẽ dễ gây ra hoang mang và cho rằng kinh sách về Phật giáo bất nhất.

Muốn hiểu được dấu ấn thứ hai, trước hết phải tìm hiểu khổ đau đã được Phật giáo định nghĩa như thế nào. Sau khi đạt được Giác ngộ hoàn hảo và trong lần thuyết giảng đầu tiên cho năm đệ tử, Đức Phật nêu lên khái niệm về Bốn sự thực cao quý tức là Tứ diệu đế. Sau đó suốt trong bốn mươi lăm năm giảng huấn, Ngài đã xây dựng giáo lý dựa trên bốn sự thực ấy, trong đó sự thực thứ nhất là khổ đau. Khổ đau theo Phật giáo rất sâu xa, cùng khắp, khó nhận biết, không nhất thiết đơn giản là những đau đớn trên thân xác hay sự giày vò trong tâm thức. Đức Phật nêu lên tám loại khổ đau là: sinh, lão, bệnh, tử, gánh chịu những gì mình không thích, xa lìa những gì mình thích, không đạt được những gì mình mong muốn và bám víu vào ngũ uẩn. Ngũ uẩn là năm thứ ràng buộc, gồm có sắc (sáu giác quan), thụ (sự cảm nhận), tướng (sự diễn đạt các cảm nhận), hành (xúc cảm, ý đồ và hành vi phát sinh từ tướng), thức (tri thức nhận biết của sáu giác quan). Cũng xin nêu lên ở đây là Phật giáo xem tâm thức là giác quan thứ sáu. Tính chất khổ đau của năm uẩn là một khái niệm triết học quan trọng trong Phật giáo. Năm uẩn là một sự giả hợp, tức vô thường, và vô thường là bản chất của khổ đau. Sự sống của con người là một chuỗi dài tiếp nối của vô số hiện tượng biến động liên quan đến thân xác và tâm thức, chúng hiện hữu từ trước khi sinh và sẽ còn tiếp tục hiện hữu sau khi chết. Những biến động nối tiếp, liên kết và xô đẩy nhau như thế được xem là những hình thức khổ đau trong thế giới luân hồi.

Tám loại khổ đau trên đây được phân loại thành ba nhóm:
- Khổ đau vì khổ đau (duhkha duhkhata): tức những khổ đau hiển nhiên và dễ nhận biết, chẳng hạn như sinh, lão, bệnh, tử, gánh chịu những gì mình không thích. Khổ đau phát sinh từ sự cố gắng vượt thoát khỏi những khổ đau khác cũng có thể xếp vào nhóm khổ đau này.
- Khổ đau vì sự biến đổi (viparinama duhkhata): tất cả mọi hiện tượng cấu hợp đều vô thường. Có thể xếp thêm vào nhóm này những khổ đau khi phải xa lìa những gì mình thích và không đạt được những gì mình mong muốn.
- Khổ đau cùng khắp và toàn diện do những hành vi tạo nghiệp (samskaraduhkha) gây ra, đây là loại khổ đau phát sinh từ năm uẩn. Tất cả mọi chúng sinh có giác cảm trong cõi luân hồi đều là những tạo tác trói buộc, tức hậu quả phát sinh từ vô minh và dục vọng.

Nếu muốn hiểu rõ hơn những khổ đau trong nhóm thứ ba, trước hết cần phải hiểu ngũ uẩn là gì. Uẩn có nghĩa là “chứa cất” hay “sâu kín” gốc tiếng Phạn là skansdha, nghĩa từ chương của chữ này là “chất đống” hay “chồng chất”, do đó ngũ uẩn có thể hiểu là sự “kết hợp” của những cấu thể. Sự kết hợp ấy được phân loại thành hai cấp bậc khác nhau:
- Trên phương diện một cá thể, ngũ uẩn là những cấu hợp tạo dựng ra cá thể ấy, sự cảm nhận về tổng thể của ngũ uẩn đưa đến sự nhận biết về si lầm về một cái “tôi” (atman) hay một nhân thể (pudgala).
- Trên phương diện tổng quát, năm uẩn tượng trưng và bao gồm tất cả mọi hiện tượng cấu hợp hiện hữu trong toàn thể vũ trụ.

Trong kinh Dharmacakra – pravartanasutra, tức kinh Chuyển pháp lần thứ nhất, sau phẩm trình bày về Tứ diệu đế, Đức Phật đã kết luận như sau: “Năm uẩn của sự bám víu chính là khổ đau”, câu ấy có nghĩa là khổ đau chính là ngũ uẩn. Tuy nhiên uẩn thứ tư giữ một vai trò quan trọng hơn hết, uẩn này gọi là hành (samskara), ngôn ngữ Tây phương dịch rất sát nghĩa chữ này và gọi là “sự tạo nghiệp” hay “hành vi duy ý” (volition, actes volitionnels, volitional acts). Uẩn thứ tư hay hành giữ vai trò diễn đạt những cảm nhận từ các giác quan, làm phát sinh xúc cảm và ý đồ, và sau cùng đưa đến những hành vi tạo nghiệp. Uẩn thứ tư vận hành liên đời với các tín hiệu nhận biết từ giác cảm, xuyên qua cách “suy diễn” nhị nguyên và quy ước. Tóm lại, hành là những chuyển động hay dao động liên đới và tác động với tất cả những xu hướng sẵn có, với những xung năng trói buộc, phát sinh từ hậu quả của những hành vi hiện tại và quá khứ của một cá thể, những chuyển động đó lại tiếp tục làm phát sinh ra nghiệp mới cho cá nhân ấy trong tương lai. Nói một cách khác, những chuyển động vừa kể là những gì đưa đến khổ đau. Vì thế dấu ấn thứ hai còn được định nghĩa là: Tất cả mọi xúc cảm đều là khổ đau. Nên hiểu xúc cảm ở đây là sự diễn đạt sai lầm về sự hiện hữu tự tại của cái “tôi” hay cái “ngã” và những cảm nhận lầm lẫn về mọi hiện tượng bên ngoài đưa đến những xúc cảm bấn loạn trong tâm thức.

Vậy có đúng thật tất cả mọi xúc cảm đều nhất thiết phải là khổ đau hay không? Mặc dù có nhiều xúc cảm có vẻ như mang tính cách hạnh phúc, tự mãn, thích thú, một vài sắc thái của lòng từ bi và nhân ái…, nhưng thật ra những loại xúc cảm ấy hàm chứa một cách kín đáo mầm mống của sự bất toại nguyện và ích kỷ, tức mầm mống của khổ đau. Xúc cảm khi đã phát sinh từ sự kết hợp giả tạo và vô thường của ngũ uẩn thì bản chất của nó tất nhiên là phải khổ đau rồi. Hơn thế nữa, xúc cảm được sinh khởi liên đới với những xung năng sẵn có của nghiệp và sự diễn đạt nhị nguyên của tâm thức, cho nên mầm mống của khổ đau trong xúc cảm là một sự kiện hiển nhiên. Người ta cũng thấy rằng các phương pháp Thiền định như Samatha (Chỉ)  Vipassana (Quán) là các cách thiền định giúp đem đến sự tĩnh lặng và an bình, ấy là cách giúp cho người hành thiền tránh khỏi ảnh hưởng và chi phối của xúc cảm, có nghĩa là tránh khỏi những loại khổ đau sâu kín và tiềm ẩn mà thông thường ta không nhận thấy.

Tuy nhiên, người ta cũng có thể tự hỏi lòng từ bi có phải là một thứ xúc cảm hay không? Đúng như thế, từ bi là một xúc cảm, nhưng từ bi của những người bình thường là những xúc cảm mang tính cách nhị nguyên, đối nghịch và vướng mắc. Hãy lấy một thí dụ cụ thể, khi nhìn thấy một người bị tai nạn giao thông, vỡ đầu gãy chân, máu me lênh láng, sự sợ hãi và thương xót phát động trong ta. Nhưng vài phút sau, khi rẽ sang một con đường khác thì lòng thương người ấy giảm xuống nhanh chóng, hoặc có thể những lo toan riêng tư hiển hiện trở lại để xâm chiếm tâm thức, che lấp và làm quên đi cảnh khổ đau vừa trông thấy. Chưa kể là phía sau những thương cảm và sợ sệt đó ẩn lấp những mối quan tâm kín đáo về sự an toàn của chính mình. Những xúc cảm như thế không phải là từ bi, đó chỉ là một hình thức thô thiển của khổ đau. Từ bi đích thực của những người tu tập không hàm chứa chủ thể và đối tượng, tức không mang tính cách suy luận nhị nguyên. Lòng từ bi ấy là một thứ “xúc cảm” trong sáng, siêu việt, vượt khỏi không gian và thời gian, vượt lên trên cái ngã của chủ thể và cả cái ngã của đối tượng. Lòng từ bi đích thực ấy kinh sách gọi là đại từ bi (mahakaruna). Dù sao thì lòng từ bi cũng chỉ là một sức mạnh, một động cơ cần thiết và không thể thiếu sót để hướng về Trí tuệ, làm nền móng cho Trí tuệ, nhưng Từ bi chưa phải là Trí tuệ.

3- Dấu ấn thứ ba: Tất cả mọi hiện tượng đều vô ngã (Anatmanah sarvadharmah)


Trong trường hợp này chữ tất cả thực sự có nghĩa là tất cả những gì được nhận biết qua khái niệm: kể cả Đức Phật, Phật pháp con đường tu tập Phật pháp, cá thể con người và những biến động trong tâm thức, tất cả đều vô ngãVô ngã có nghĩa là không có một hiện tượng nào hàm chứa một sự hiện hữu đích thực, tự tại, bền vững và độc lập. Chữ hiện tượng ở đây có nghĩa là mọi vật thể, mọi biến cố, trong đó kể cả tư duy và xúc cảm. Tất cả những gì mà ta có thể hình dung được đều không hàm chứa một sự hiện hữu nội tại nào. Chúng chỉ là những hiện tượng cấu hợp nên chỉ có thể hiện hữu bằng cách tương liên và lệ thuộc vào những hiện tượng khác. Sự tương liên và lệ thuộc đó không bền vững và luôn luôn biến động, do đó các hiện tượng cũng biến động theo. Khi suy tư và truy lùng để tìm hiểu bản thể của tất cả mọi hiện tượng, ta sẽ khám phá ra là chúng chỉ hiện hữu nhờ vào sự kết hợp tạm thời của những thành phần tương kết và lệ thuộc vào nhau.

Cũng cần phải xác định một cách minh bạch là tất cả các học phái Phật giáo đều chấp nhận khái niệm về Vô ngã, tuy nhiên các học phái như Đại Tì bà sa luận (Vaibhasika) và kinh Lượng Bộ (Sautrantika) thuộc Nam tông chỉ chấp nhận tính cách Vô ngã của cá thể con người (budgalanairatmya), trong khi đó các học phái như Duy thức (Cittamtra) và Trung đạo (Madhyamika) thuộc Bắc tông lại xem tất cả mọi hiện tượng đều vô thực thể, không hàm chứa bất cứ một cái ngã nào cả và gọi đó là tánh Không của mọi hiện tượng (Sunyata).

Khi một cá thể “vô minh” cảm nhận một vật thể, hay nói một cách nôm na là cá thể ấy “nhìn thấy” một vật thể, thì xem vật thể vừa cảm nhận hiện hữu một cách thực sự và bền vững. Nhưng thật ra sự hiện hữu ấy phải dựa vào vô số điều kiện, còn gọi là cơ duyên, để hiển hiện. Những điều kiện hay cơ duyên ấy gồm cả những yếu tố bên trong, tức nội tâm hay tri thức của cá thể đứng ra cảm nhận hay “trông thấy” vật thể ấy. Vậy vật thể nhìn thấy không hoàn toàn khách quan, không thuộc hẳn vào thế giới bên ngoài của cá thể đứng ra cảm nhận. Vì thế kinh sách thường ví các hiện tượng giống như ảo giác, vì chúng chỉ hiện hữu khi liên đới với nhiều yếu tố và nhiều điều kiện, sự hiện hữu lệ thuộc đó chỉ là những biểu hiện tạm thời và “không thật” của các vật thể hay các hiện tượng. Bản chất đích thực của chúng là tánh Không hay Shunyata. Tánh Không là một ngôn từ, một thuật ngữ, một cách nói, một phương tiện trình bày bản chất không thật, luôn luôn biến động và lệ thuộc của mọi hiện tượng. Sở dĩ gọi là tánh Không vì chúng không hiện hữu đúng một cách tự tại, hay ít ra là chúng cũng không hiện hữu đúng theo cách thức cảm nhận của ta: chúng chỉ là những phóng ảnh của hiện thực.

Những phóng ảnh ấy nhất định mang đến khổ đau cho mọi sinh linh có giác cảm. Tại sao lại như thế? Tại vì bản chất của chúng mang tính cách bấn loạn và không thực. Những cảm nhận sai lầm, không nhận thức được bản chất ảo giác của mọi hiện tượng, hiển nhiên là nguồn gốc của khổ đau. Khái niệm Vô ngã còn gọi là tánh Không của vạn vật do Đức Phật thuyết giảng, giúp cho ta quán thấy bản chất đích thực của mọi hiện tượng, sự quán thấy ấy sẽ giải thoát ta khỏi mọi khổ đau. Trên một bình diện khác, đôi khi tánh Không cũng được diễn đạt bằng một cách khác, qua một thuật ngữ khác và gọi là Pháp thân (Dharmakaya).Pháp thân hay hình tướng giáo pháp của Phật tượng trưng cho tánh Không hay Vô ngã, “hình tướng” đó trường tồn, bất biến và cùng khắp, do đó cũng có thể gọi là Chân như hayPhật tính. Dù sao thì chúng ta cũng đang lẩn quẩn trong lãnh vực của ngôn từ và khái niệm, và điều đó cũng chứng minh cho thấy kinh sách đã dùng thật nhiều phương pháp; luận cứ và thuật ngữ khác nhau trong mục đích giúp ta lý luận và thấu hiểu tánh Không hay Vô ngã là gì. Tất nhiên sự hiểu biết đó còn vướng mắc trong lãnh vực công thức và quy ước, có nghĩa là mang tính cách trí thức, chưa phải là một sự quán thấy trực tiếp, phi lý luận và phi ngôn từ. Trình độ tu tập của ta chỉ đủ sức hiểu được tánh Không và Vô ngã dựa vào lý luận và sự nhận biết nhị nguyên mà thôi. Những sinh linh “giác ngộ” quán thấy tánh Không và Vô ngã một cách trực tiếp, toàn vẹn và rốt ráo, tức nhìn thấy hiện thực hay sự thực tối hậu của mọi hiện tượng bằng trực giác, vượt lên trên những lý luận nhị nguyên và quy ước. Sự quán thấy ấy gọi là sự Giác ngộ hay Giải thoátGiải thoát ở đây có nghĩa là giải thoát khỏi mọi xúc cảm bấn loạn phát sinh từ sự diễn đạt sai lầm, nguồn gốc của khổ đau. Cũng xin nhắc thêm là Tâm kinh hay kinh Bát  nhã  ba la  mật đa (Prajnaparamitasutra) là một bộ kinh quan trọng trình bày và giải thích về dấu ấn thứ ba như vừa được trình bày trên đây.

4- Dấu ấn thứ tư: Niết-bàn là an tịnh (santam nirvanam)



Niết -bàn (Nibbana) là một thể dạng phát sinh khi dục vọng và mọi nguyên nhân gây ra dục vọng đã hoàn toàn chấm dứt. Trên bình diện tổng quát, Niết-bàn có nghĩa là sự an tịnh (santi), vì thế cũng có thể đồng hoá Niết-bàn với một thể dạng của tâm thức. Niết-bàn cũng có nghĩa là sự giải thoát khỏi thế giới luân hồi, một th6ẻ dạng tự do không bị ràng buộc và vướng mắc trong điều kiện, vượt lên trên hiện tượng vô thường và mọi biến động, không còn sinh, thành và hoại. Niết-bàn còn có nghĩa là “bờ bên kia” và dịch sang ngôn ngữ Tây Tạng thì lại có nghĩa là “phía bên kia của khổ đau”. Đó là một thể dạng vượt lên trên hư vô và cả sự trường tồn vĩnh cửu. Tuỳ theo học phái, định nghĩa của Niết-bàn có một vài khác biệt thứ yếu.

Theo định nghĩa của Nam tông, Niết-bàn là thể dạng của giải thoát mà người A-la-hán có thể đạt được, một thể dạng mà mọi dục vọng và nguyên nhân phát sinh ra dục vọng đã hoàn toàn chấm dứt. Có “hai thứ” niết-bàn:
-Niết-bàn Hữu dư (sopadhisesanirvana): đó là thể dạng giải thoát của một vị A-la-hán khi còn tại thế. Tuy rằng dòng tiếp nối liên tục thuộc tâm thức của vị A-la-hán ấy đã được giải thoát khỏi sự vận hành ô nhiễm, của tạo tác và vô minh, tức là những nguyên nhân trói buộc trong thế giới luân hồi, và đồng thời mọi nguyên nhân tạo nghiệp cũng không còn hiện hữu nữa, nhưng người A-la-hán vẫn phải tiếp tục sống trong một thân xác cấu hợp mà họ đang có, vì đấy là hậu quả của những nghiệp trong quá khứ. Vì thế họ vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi đau đớn và bệnh tất, mặc dù tâm thức của họ đã an tịnh.
-Niết-bàn Vô dư (nirupadhisesanirvana): Đó là thể dạng của một vị A-la-hán đã được giải thoát và đã tịch diệt. Khi “trút bỏ” được tứ đại cấu hợp, tức phần dư thừa ô nhiễm, thì khi đó vị A-la-hán giác ngộ mới hoàn toàn “nhập” vào thể dạng Niết-bàn. Thể dạng ấy là thể dạng không còn giác cảm và đối tượng của giác cảm (ayatana, tiếng Hán gọi là trần hay cảnh…), không còn một hiện tượng nhận biết nào (dhatu), không còn một “khả năng” hay “chức năng” (indriya) thuộc vật chất hay tâm thần nào nữa, giống như một ngọn lửa tắt đi khi nhiên liệu đã hết.

Theo định nghĩa của Bắc tông, Niết-bàn không hẳn là một thể dạng tịch diệt, tịch tĩnh hay tịch lặng như đã đuợc định nghĩa trong Nam tông, trái lại là một thể dạng mang tính cách tích cực của sự giác ngộ hoàn hảo (samyaksambuddha). Chư Phật và các vị Bồ-tát giác ngộ không “nhập” vào Niết-bàn tĩnh lặng, nhưng cũng không “rơi” vào cảnh giới ô nhiễm của luân hồi. Vì lòng từ bi thúc đẩy, họ tự nguyện lưu lại trong cõi luân hồi để giúp đỡ chúng sinh. Thể dạng tích cực đó hiển hiện qua một hình tướng siêu nhiên trong cõi sắc giới và gọi là Sắc thân (Rupakaya). Nếu hiểu theo quan điểm và khái niệm ấy thì người Bồ-tát không thể hình dung được Niết-bàn là gì khi nào chúng sinh vẫn còn hiện hữu trong cõi luân hồi. Nếu dựa vào định nghĩa của Niết-bàn ở một cấp bậc cao hơn nữa theo trường phái Trung đạo, thì đó là một thể dạng “ngang hàng” với luân hồi. Niết-bàn và luân hồi là hai thực thể có cùng một thể dạng, vì thế không có chuyện “vượt thoát” thế giới luân hồi để “nhập” vào cõi Niết-bàn. Khi đã đạt được sự quán nhập về tánh Không, thì sự phân biệt giữa luân hồi và niết bàn sẽ tan biến. Niết-bàn không phải là một thể dạng chấm dứt của một sự tạo tác nào cả, bởi vì trên phương diện sự thật tuyệt đối, không có sự tạo tác nào của bất cứ một hiện tượng nào, tức là không có thành cũng không có hoại, không có sinh mà cũng không có tử.

Nói chung,Niết-bàn không phải là một sự hiện hữu từ bên ngoài, không phải là một sáng tạo của Đức Phật dành riêng cho những kẻ đã giác ngộ, nó cũng không mang một đặc tính nào của không gian, tức không thuộc về hướng Đông cũng chẳng phải ở hướng Tây, nó vượt lên trên đặc tính của thời gian, tức không hư vô mà chẳng thường hằng. Tóm lại, Niết- bàn là một thể dạng của tâm thức, hiển hiện khi ta nghĩ đến nó. Tuy nhiên nó chỉ có thể thật sự hiển hiện với ta khi những quán nhận ô nhiễm, sai lầm và vô minh đã được xoá bỏ.
Tóm lại,nếu phân tích thật kỹ thì bốn dấu ấn vừa định nghĩa trên đây không phải là những khái niệm biệt lập, hàm chứa những sự thật riêng rẽ và đối nghĩa với nhau, nhưng đó là những sự thật liên kết với nhau, hỗ trợ cho nhau, từ bản chất vô thường đến tánh Không của mọi hiện tượng, từ sự biến động đến sự an tịnh của Niết-bàn.

~-.().-~

Tách trà và nước trà



Vị Lạt-ma Dzongsar Jamyang Khyentse được nhắc đến trên đây, đã khẳng định trong quyển sách của ông như sau:
“Nếu ai không đủ sức chấp nhận mọi hiện tượng cấu hợp và tạo tác là vô thường, đồng thời vẫn còn tin tưởng có một thực thể hay một khái niệm nào đó trường tồn và bất biến, thì kẻ đó không phải là một Phật tử.
Nếu ai không đủ sức chấp nhận tất cả mọi xúc cảm là khổ đau, đồng thời vẫn tin tưởng có những xúc cảm mang bản chất hoàn toàn êm ái, thì kẻ đó không phải là một Phật tử.
Nếu ai không đủ sức chấp nhận tất cả mọi hiện tượng là ảo giác và trống không, đồng thời vẫn tin là một thứ gì đó hiện hữu một cách tự tại, thì kẻ đó không phải là Phật tử.
Nếu ai tin tưởng là sự giác ngộ hiện hữu qua những kích thước của thời gian và không gian bằng quyền lực của một sức mạnh thiêng liêng, thì kẻ đó không phải Phật tử”.

Bốn dấu ấn là những gì chứng nhận một người Phật tử đích thực, dù kẻ đó chỉ là một người thể tục. Tuy nhiên bốn dấu ấn không chỉ dùng để chứng nhận suông mà còn đòi hỏi người được chứng nhận phải luông chú tâm vào ý nghĩa của bốn dấu ấn và sống phù hợp với những ý nghĩa ấy. Dzongsar Jamyang Khyentse đưa ra hình ảnh nước trà để so sánh những cạm bẫy của văn hóa Phật giáo với những gì tinh tuý của Phật pháp: hình thức tu tập hay cạm bẫy văn hóa giống như một cái tách và phần tinh tuý của Phật pháp là nước trà đựng trong tách.

Nước trà tượng trưng cho bốn dấu ấn, trong khi đó phương pháp và hình thức tu tập là cái tách. Phương pháp và kỹ thuật có thể mô tả và nắm bắt được, những sự thật thì vô cùng khó khăn. Không để bị lôi cuốn và mê hoặc bởi hình dánh và màu sắc của cái tách là một sự thách đố cho mỗi người trong chúng ta. Những hình thức tu tập bên ngoài rất dễ nhìn thấy, và người ta có chiều hướng xem đó là Phật giáo, chẳng hạn như ngồi im trên một toạ cụ, đánh chuông, gõ mõ và tụng niệm liên tục…,  trong khi những khái niệm sai lầm và bấn loạn vẫn tiếp tục tung hành trong tâm thức và chi phối mọi cảm nhận trên thân xác thì vô thường đang tác động, tất cả các thứ ấy người tu tập không nhìn thấy và không ý thức được.

Trải qua hơn hai mươi thế kỷ lịch sử của Phật giáo, không biết bao nhiêu hình thù, màu sắc và kích thước của cái tách đã được sáng tạo. Dù rằng những sáng tạo đó mang mục đích tích cực, hướng dẫn người tu tập bằng những phương pháp hữu hiệu và thích nghi nhất, nhưng đồng thời chúng cũng có thể là những chướng ngại, những cạm bẫy mê hoặc người tu tập làm cho họ chỉ biết nâng tách trà trong hai tay để chiêm ngưỡng, nhưng quên bẵng đi không nghĩ đến việc uống nước trà trong tách. Nhang đèn, ảnh tượng, chuông mõ, lễ lạt… có vẻ rất hấp dẫn và mê hoặc, nhưng vô thường và vô ngã thì lại không, chúng vừa rắc rối lại chẳng có gì thu hút một hành giả. Dù cho họ có quan tâm đi nữa thì biết đâu những lời giảng liên quan đến các khái niệm ấy đối với họ chỉ có tính cách lý thuyết dùng để nghe cho bùi tai trong giây lát, nhưng chẳng có gì liên hệ đến đời sống hằng ngày của họ. Khi sống thì cầu an để được sống lâu và khoẻ mạnh cho đến lúc chết, khi chết thì cầu siêu để chờ được tiếp dẫn về Tây phương Cực lạc, quả thật chẳng có gì dễ hơn, nhưng nếu bắt buộc phải thấu hiểu sự kiện Niết-bàn vượt lên trên mọi khái niệm thì lại là chuyện quá rắc rối.

Trong Phật giáo nếu có những gì có thể thích ứng được, ấy là nghi lễ, biểu tượng, phương pháp, nhưng sự thực thì không. Sự thực tuyệt đối mô tả trong Phật giáo là những sự thực không thể biến dạng để thích ứng. Bốn dấu ấn đã từng là sự thực tại phương Đông thì ngày nay vẫn còn tiếp tục là sự thực ở phương Tây. Dù cho người Tây phương chú tâm nhiều về giá trị triết học và khoa học của Phật giáo, và dù cho họ có đặt nặng lý thuyết hơn về tu tập đi nữa, thì bốn dấu ấn vẫn là phần nòng cốt của nền giáo lý Phật giáo đang phát triển ở phương Tây ngày nay. Giới luật và phương pháp tu tập có thể biến đổi để thích nghi với xã hội và biên giới quốc gia, nhưng bốn dấu ấn hay bốn sự thực thuộc chân lý của Phật pháp thì vẫn thế, những sự thực ấy không cần phải thích ứng, và cũng không thể nào thích ứng được.

Ta có thể rót nước trà sang một cái tách khác, nhưng nước trà vẫn là nước trà. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm nay, nếu như “những hiện tượng cấu hợp đều vô thường” thì ngày nay chúng vẫn tiếp tục vô thường trên một cánh đồng lúa sình lầy của Á châu hay trên đại lộ Paris. Nếu “những gì chuyển động đều là khổ đau” thì chúng ta vẫn tiếp tục là khổ đau, dù đấy là những chuyển động trong tâm thức của một cá thể hay thuộc vào ngoại cảnh, trên một triền dốc của Hy-mã-lạp sơn hay trong chốn rừng rậm của lục địa Phi châu. Người ta không có cách gì để làm thay đổi những sự thực trong bốn dấu ấn của Phật giáo, không có một thể chính trị nào, một cấu trúc xã hội nào hay một nền văn hóa nào có thể làm được việc đó.

Khu vườn và căn nhà Phật pháp

                                                                                                                                                                   
 Người ta cũng có thể mượn một hình ảnh khác để tượng trưng cho bốn dấu ấn, ấy là bốn bức tường của một căn nhà trong một khu vườn mênh mông. Khu vườn trang trí chung quanh căn nhà là những gì mà người ta có thể biến đổi, nhưng căn nhà quy định bởi bốn bức tường của Phật pháp thì không biến đổi được. Ta có thể kiến tạo một khu vườn theo kiểu Trung Hoa với ao sen và ngôi nhà thủy tạ, hay một khu vườn theo kiểu Nhật Bản với sỏi đá và các cây phong làm kiểng. Người ta cũng có thể thiết lập trong ngôi vườn đó những nơi ngồi thiền hay những sân tập võ, quy định những nơi chuông mõ vang rền, thiết kế những nơi vô vi và thanh thản, tạo ra những góc vườn đầy hoa thơm và cỏ lạ với những gốc cổ thụ trăm năm…

Nhưng những thứ ấy không phải là Phật pháp, đây chỉ là những vay mượn của các nền văn hóa, những biểu hiện kín đáo của xung năng và dục vọng từ nơi sâu kín của con người, những thứ ấy có vẻ thật lôi cuốn và hấp dẫn. Người tu tập rất dễ bị mê hoặc bởi những thứ màu mè như thế và không ra sức để đến gần hơn với bốn bức tường của căn nhà. Những hình thức tu tập hấp dẫn và mê hoặc là những gì thêm thắt trong suốt quá trình lịch sử của Phật giáo, tuy có thể ích lợi nhất thời, nhưng không phải là Phật pháp… Trong ngôi vườn đó có kẻ thích hoa sen, có người lại thích hoa hồng. Có những người thích được thanh thản tản bộ trong những con đường mòn ngoằn ngoèo đầy hoa thơm và cỏ lạ. Có người thích ngồi tĩnh tọa dưới một gốc cây để tìm cách quên đi những biến động của vô thường. Có người lại thích đánh chuông, gõ mõ liên miên và bất tận. Có người thích múa tập khí công vào buổi sáng khi mặt  trời vừa ló rạng…

Ngôi vườn đó tượng trưng cho sắc giới trong cõi luân hồi, phảng phất sự bám víu, cố chấp và vô minh, có mấy ai thật sự muốn rời bỏ cõi sắc giới đó để bước vào căn nhà Phật pháp? Bốn bức tường thật kiên cố và vững chắc, thẳng băng, nhưng không sơn phết, chẳng màu mè và trang trí gì cả, tuyệt nhiên không có gì hấp dẫn và lôi cuốn, vì thế nhiều người vẫn thích lẩn quẩn trong khu vườn hơn là tìm hiểu những gì phía sau bốn bức tường. Nếu bốn bức tường tượng trưng cho bốn dấu ấn thì đấy là vô thường, khổ đau, vô ngã và an tịnh. Bốn bức tường không cất giấu một kho tàng nào cả, và bên trong cũng không có những trang trí vàng son chói lọi. Bước vào căn nhà chỉ có nghĩa là hội nhập với vô thường, trực tiếp với khổ đau, để nhận thấy bản chất của hiện thực, và để tréo chân ngồi xuống trong an tịnh. Căn nhà ấy là căn nhà của Phật pháp, căn nhà của Giác ngộ, nó đang hiện hữu một cách vững chắc giữa khu vườn sâu kín trong một chốn tận cùng của tâm thức ta.

Kết luận:

Khi chải đầu ta thấy một sợi tóc vướng trong răng lược, khi mang giày ta lại thấy gót giày mòn lệch sang một bên, khi bước ra đường ta thấy một chiếc xe chạy ngang mặt…, ấy có nghĩa là ta đang sống trong vô thường. Khi chú tâm vào hơi thở, ta cảm thấy đang thở ra và hít vào, khi đặt tay lên ngực, ta nhận ra tim đang đập…, ấy có nghĩa là ta đang sống với vô thường. Khi nhìn vào tâm thức, ta nhận ra những xúc cảm đang tiếp nối nhau: yêu thương, hờn giận, oán thù, ganh tị, ước mơ, chờ đợi, hy vọng, sung sướng, hạnh phúc…, ấy là vô thường đang xâm nhập vào chốn tận cùng của tâm thức ta. Tất cả mọi hiện tượng đều vô thường, nhưng không mấy khi ta nhận thấy.

Khi gỡ bỏ sợi tóc khỏi răng lược, khi nghĩ rằng sắp phải mua một đôi giày khác, khi giật mình thấy một chiếc xe vụt ngang mặt…, ấy là ta đang khổ đau một cách kín đáo. Tuy rằng một sợi tóc rụng không đau đớn và chưa phải là bịnh tật, thay một đôi giày chưa phải là xa lìa những gì mình quen thuộc và yêu thích, một chiếc xe vụt ngang mặt chưa gây ra tai nạn cho ta…, tuy rất nhẹ nhàng nhưng tất cả những thứ ấy thật ra đã là khổ đau rồi. Trong lúc ta đang yêu thương, hờn giận, oán thù, ganh tị, ước mơ, chờ đợi, hy vọng, sung sướng, hạnh phúc…, nếu như có ai bảo rằng tâm thức ta đang tràn ngập những xúc cảm bấn loạn, nguồn gốc mang đến khổ đau, thì nhất định ta không nhìn nhận, ta chỉ chấp nhận là ta đang yêu thương, oán hờn, ganh tị, hạnh phúc…, mà thôi. Khổ đau theo định nghĩa của Phật giáo là như thế, cùng khắp và lắm khi mang tính cách lừa phỉnh và khó nhận biết. Tất cả những gì chuyển động bên ngoài, những gì thay đổi trên thân xác, những xúc cảm tiếp nối nhau hiển hiện trong tâm thức, đều là khổ đau. Tất cả mọi hiện tượng vô thường đều là khổ đau, nhưng không mấy khi ta chấp nhận.

Khi vứt bỏ sợi tóc vào giỏ rác bên cạnh thau rửa mặt, có thể ta nghĩ rằng tóc dạo này đã ít lại hay rụng; khi cột dây giày, ta nghĩ rằng sẽ mua một đôi khác và vứt đôi này đi; khi thụt lùi để tránh chiếc xe, ta cũng có thể nghĩ rằng vừa thoát chết vì cái xe chạy nhanh quá. Sợi tóc bắt đầu bằng một tế bào ở da đầu sinh ra, trước đó nó không có, và trước đây vài phút còn là một thành phần cấu hợp của thân xác ta, ngày mai nó sẽ được xe rác mang đi và đốt bỏ trong lò đốt rác…, nó không có một sự hiện hữu độc lập, bền vững và tự tại nào, vì thế nó không có cái ngã. Đôi giày làm bằng da bò, người thợ đóng giày khâu những miếng da lại để tạo ra một đôi giày, số phận của nó cũng giống như sợi tóc, đôi giày không có cái ngã. Thân xác ta gồm có vô lượng cấu hợp: từ những sợi tóc trên đầu, máu huyết trong cơ thể, hơi thở trong phổi, chất nhờn trên da, tư duy và xúc cảm trong tâm thức…, khi tất cả những cấu hợp và xúc cảm vừa kể không còn hội đủ điều kiện để liên kết với nhau nữa, chẳng hạn như sau khi chiếc xe đã đâm thẳng vào ta, thì lúc đó cái ngã của ta cũng không còn tồn tại để tự nhận diện và phân biệt với sợi tóc, đôi giày và sự sung sướng trong tâm thức. Tổng thể những cấu hợp vừa kể tạo ra cho ta một ảo giác về cái ngã. Ta không hiện hữu thật sự: sợi tóc, hơi thở, đôi giày trong hai chân, chất nhờn trên da, chiếc xe đã vụt mất, hạnh phúc phát sinh trong tâm thức…, tất cả chỉ là những kết hợp tạm thời giữa những thành phần cấu hợp “của ta” liên đới với những vật thể và biến cố thuộc vào “môi trường chung quanh” và “toàn thể vũ trụ”.

Nhưng thật là lạ, tại sao ta lại bước ra đường trễ mất hai giây và chiếc xe tránh được, không đâm thẳng vào ta? Ấy là vô số cơ duyên chưa hội đủ để làm phân tán những thành phần đã cấu hợp ra cái ta. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ thì ta sẽ thấy rằng không phải chiếc xe chạy nhanh đã suýt đâm vào ta mà chính người tài xế lái nhanh suýt gây ra tai nạn. Nhưng nếu suy luận xa hơn nữa, thì cũng không phải người lái xe cố tình lái nhanh mà chính là những xúc cảm bấn loạn trong tâm thức anh đã xui khiến anh lái nhanh, chẳng hạn như phải giao gấp một món hàng, hay vừa nghe tin con đau ở nhà cần phải về gấp, hay là anh đang nghĩ đến một việc gì đó làm cho anh giận. Những nguyên nhân như thế anh không chủ động được, chúng nằm “bên ngoài”, và anh ta đem vào “bên trong” để chúng kích động anh lái xe nhanh. Nếu tiếp tục suy nghĩ theo chiều hướng đó, ta sẽ hiểu hiện tượng tương liên trong Phật giáo là gì: những nguyên nhân hay biến cố thật ra, không có vẻ gì liên hệ đến ta, nhưng ảnh hưởng một cách trực tiếp đến mạng sống của ta. Nguyên nhân của tai nạn suýt xảy ra không phải là tại chiếc xe, không phải người tài xế, mà chính là những xúc cảm trong tâm thức của anh ta, những xúc cảm đó trùng hợp với những xung năng kích động ta bước ra đường. Sự tương liên là như thế, nhưng ta vẫn có chiều hướng phân biệt và tách rời từng biến cố và từng sự kiện để quy lỗi. Hiện tượng tương liên, tương kết và tương tạo cho thấy một ý đồ hay một hành vi dù thật nhỏ cũng đều tương tác đến tất cả mọi hiện tượng khác trong thế giới này. Một chút giận dữ cũng có thể gây ra những hậu quả khôn lường, nhưng đồng thời ta cũng có thể hiểu rằng một xúc cảm từ bi trong tim cũng có thể lan ra đến phía bên kia bờ của vũ trụ. Tất cả mọi hiện tượng đều vô ngã, chúng chỉ hiện hữu khi tương liên với những hiện tượng khác, nhưng ta lại có chiều hướng tách ra từng hiện tượng một, xem mỗi hiện tượng là thật và sự hiện hữu của chúng mang tính cách vững chắc và bám víu vào đó.

Suy nghĩ thật kỹ ta cũng có thể hiểu tại sao ta lại bước ra đường trễ mất hai giây? Lý do có thể rất tầm thường, chẳng hạn chỉ vì ta ngồi thiền và vừa đứng lên, lo âu và buồn phiền trong tâm thức chưa kịp trỗi dậy, ta còn đủ thanh thản và sáng suốt nhìn thấy một sợi tóc vướng trong răng lược, nhận ra gót giày đã mòn lệch một bên…, có phải cái thanh thản của những suy tư về sợi tóc và đôi giày cũ đã làm mất đi hai giây trong cuộc sống của ta trong ngày hôm ấy?

An tịnh là Niết  bàn hay Niết bàn là an tịnh thì cũng thế. Tất cả những gì tĩnh lặng là an tịnh, tất cả những gì an bình là tĩnh lặng. Tĩnh lặng là không sinh, không thành cũng không hoại. Không có sợi tóc nào vướng trong răng lược, đôi giày cũng không có đế mòn lệch một bên, chẳng có một chiếc xe nào chạy ngang mặt, xúc cảm về sung sướng cũng không hiển hiện trong tâm thức. Niết bàn vượt lên trên mọi khái niệm, mọi kích thước của không gian và thời gian. Niết bàn có thể xem như một thể dạng của tâm thức, nhưng ta vẫn phóng tâm ra ngoài để đi tìm nó ở hướng Tây.

Ta không sinh ra là một người Phật giáo, ta cũng không trở thành một Phật tử bằng nghi lễ. Chỉ khi nào ta chấp nhận bốn dấu ấn và sống thật sự với ý nghĩa của bốn dấu ấn ấy, thì lúc đó ta mới có thể tự nhận diện là một Phật tử đích thực. Trong trường hợp ta có cơ duyên tốt lành để biết được Phật pháp, nhưng lại cứ tiếp tục nâng cái tách để chiêm ngưỡng hình dáng, ngắm nghía tranh vẽ và nước men, không uống nước trà trong tách, hoặc thanh thản đi tản bộ để ngây ngất với hoa thơm cỏ lạ trong khu vườn, nhưng không bước vào căn nhà, thì khi ấy ta vẫn còn ở bên ngoài Phật pháp.■

Sách của Dzongsar Jamyang Khyentse:
- Ấn bản tiếng Anh: What Makes you not a Bouddhist, Nhà Xuất bản Shambhala, Boston & London, 2007.
- Ấn bản tiếng Pháp: N’est pas Bouddhiste qui veut, Nhà Xuất bản Nil, Paris, 2008.

Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo số 69 (Tháng 12/2014)