Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014


CẢ ĐỜI TÔI TÌM CHÚA

Trần Tiên Long


Tôi vốn không thích viết về tôi, một cái tôi đáng ghét. Đã có nhiều độc giả từng đặt ra những câu hỏi, thắc mắc, đúng hơn là những ức đoán có mục đích dèm pha về đời sống cá nhân, gia đình, và nội tâm của con người tôi. Nhưng tôi vẫn giữ im lặng, chẳng cần phải thanh minh hay biện giải. Bởi lẽ, những dèm pha đó không liên quan đến những gì tôi đã viết. Nhưng nay nghĩ lại, có lẽ mình cũng nên chia sẻ với các độc giả về lý do tại sao tôi không còn tin về sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn năng.
Đã có nhiều tác giả ngoại quốc viết về đề tài này, bao gồm Bertrand Russell với bài Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Ki-tô Giáo; [1] hoặc Robert Ingersoll, Tại Sao Tôi Là Người Không Tin. [2]  Do vậy, ở bài viết này, tôi sẽ không đề cập chi tiết về các luận chứng của họ để dành chỗ cho những điều riêng tư, những điều mà tôi đã từng trải nghiệm, kinh qua, để rồi mãi tới ngày hôm nay mới dám khẳng định công khai điều mình đang cảm nhận. Đây là kết quả của một cuộc tìm kiếm suốt cả đời người.
Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày lý do tại sao tôi không còn tin có Chúa qua các tiểu mục sau:
·         Tất cả chỉ tại một chữ duyên
·         Thượng đế nào?
·         Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
·         Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
·         Kết luận

Tất cả chỉ tại một chữ duyên
Tôi đã dành trọn cả cuộc đời tôi để đi tìm bằng chứng và dấu vết về sự tồn tại của một thượng đế mà người Công Giáo gọi là Thiên Chúa. Mới chừng 11 tuổi đầu (hè 1965), tôi gia nhập Tiểu Chủng Viện Sao Biển thuộc giáo phận Nha Trang để học nghề làm linh mục, theo gót chân của anh tôi. Sau sáu năm, tôi dời bỏ đời sống tu trì, hăng say nhập vào cuộc đời khi gần 17 tuổi (cuối năm 1970). Mặc dù vậy, thắc mắc về sự tồn tại của Thiên Chúa luôn luôn cứ theo bám, luẩn quẩn trong tâm trí tôi. Đến khi đã trưởng thành, học xong bậc đại học, tôi vẫn còn hăng say tích cực hoạt động tông đồ ở một xứ đạo VN bên Hoa Kỳ. Tôi đã là thành viên của hội Cursillo, thư ký của nhóm Linh Thao, sáng lập viên tờ Đồng Hành, và là giảng viên Giáo Lý lớp 12 cho các em học sinh VN của cộng đoàn Các Thánh Tử Đạo VN, New Orleans, Louisiana. Ở tuổi gần 40, sau khi đã có gia đình và bốn thằng con trai, tôi còn là giáo viên dạy Việt Ngữ, ủy viên Công Giáo Tiến Hành, và thừa tác viên Thánh Thể cùng với các linh mục cho giáo dân rước mình thánh Chúa trong những ngày lễ cuối tuần ở cộng đoàn Chúa Cứu Thế, Long Beach, California.

Tôi cũng đã từng trải nghiệm những giây phút sảng khoái, xúc động khi cầu nguyện với Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria, tưởng như được Chúa và Mẹ yêu thương cách riêng đến nỗi nhiều khi rơi rớt đôi dòng lệ. Nhưng tôi cũng đã có những giây phút yếu đuối, ngã lòng, nghi ngờ, tự hỏi không biết có Chúa thực, hay tất cả đơn thuần chỉ là một thứ cảm xúc tự nhiên do trí óc tưởng tượng của con người. Và tôi cũng đã cầu xin Chúa cho tôi một dấu chỉ, một tín hiệu để tôi biết Ngài đang hiện diện. Nhưng tất cả chỉ là sự im lặng tuyệt đối, trống vắng, từ tháng này qua tháng khác, từ năm kia sang năm nọ, suốt cả cuộc đời này.

Nếu cuộc đời cứ trôi nổi mãi như vậy thì tôi đã không phải là tôi như ngày hôm nay, nghĩa là tôi vẫn cứ vô tư, thoải mái tin và làm những gì đã được nhồi sọ ngay từ khi mới chào đời. Cái cơ duyên bất ngờ đã đến khi tôi có dịp đọc cuốn Hành Hương Đất Phật của tác giả Phan Thiết, tức cựu Thẩm Phán Nguyễn Kim Khánh. Đây là một cuốn sách viết về Phật Giáo bởi một tín đồ Thiên Chúa Giáo, có mục đích xuyên tạc và dèm pha Phật Giáo. Nhưng chính cuốn sách đó là cuốn tôi đã đọc say mê lần đầu tiên trong đời về Phật ở cái tuổi ngoài 40. Bởi lẽ, là một người Công Giáo theo đạo dòng, được rửa tội từ khi mới vài tuần tuổi, tôi luôn luôn xem Bụt và tất cả các thần linh của các tôn giáo khác là ma quỷ, mê tín dị đoan. Tôi cầu nguyện đêm ngày, xin Chúa giữ gìn, tránh xa mọi dịp cám dỗ để khỏi bị sa ngã. Khi mới qua Hoa Kỳ, có lần hai ông mục sư Mỹ gõ cửa nhà tôi để dụ đạo. Tôi đã mời họ vào để nghe họ giảng đạo và xin một ít sách báo để tìm hiểu thêm về Tin Lành, nhưng đã bị cha mẹ tôi la rầy, không muốn tôi tiếp xúc với họ nữa. Và tôi đã vâng lời cha mẹ tôi một cách miễn cưỡng.

Nhưng ngày nay, vì công ăn việc làm, tôi phải sống lẻ loi nơi một thành phố xa lạ, hoàn toàn tách biệt khỏi cha mẹ, anh em, họ hàng, bà con lối xóm, và các bạn bè đồng đạo. Bằng tư duy và nhận thức độc lập, chính bài Vô Tự Chân Kinh đã giúp tôi quyết định tự tìm hiểu thêm về các tôn giáo khác khi đã ở cái tuổi quá nửa đời người. Lời kệ của Đức Thích Tôn được ghi lại trong kinh Tăng Nhất Tập chứa đựng một chân lý mà cho đến nay không một ai có thể phản bác ở bất cứ điểm nào:
“Đừng tin điều gì do kinh sách.
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền.
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại.
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhân.
Đừng tin điều gì do người ta tưởng tượng ra rồi gán cho thần phật nói.
Đừng tin điều gì vì uy tín của thày dạy.
Nhưng hãy tin vào điều các con đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho các con và kẻ khác.
Lòng tin ấy sẽ thăng hoa đời con, và các con hãy lấy đó làm tiêu chuẩn.”
  [3]



Tôi tự hỏi, nếu ý tưởng của bài kinh kệ đó đích thực là chân lý thì tại sao ở ngoài cái tuổi tri thiên mệnh này tôi vẫn không thể tự tạo cho mình một hướng đi? Cứ nhắm mắt tin và làm theo những gì được dạy dỗ chỉ vì đức vâng lời thì rõ ràng đó là một thái độ hành xử vong thân, vong bản vì đối nghịch với bản chất đích thực của con người vốn có lý trí và ý chí tự do. Tôi phải là tôi, chứ không cần phải là một người nào khác mà tôi muốn bắt chước. Tôi muốn mình là một con người có đầy đủ nhân vị, không phải một con chiên, càng không phải một ông thánh. Và nếu có muốn bắt chước thì cũng phải từ một quyết định tự do cá nhân, chẳng phải quyết định áp đặt của bất cứ ai. Tôi sống cuộc đời của tôi với tinh thần trách nhiệm, an nhiên tự tại, không phải cuộc đời của thiên hạ.
Chỉ một câu kinh Phật đã làm thay đổi toàn vẹn cách lối tư duy và nhận thức của một tín đồ Công Giáo đạo dòng. Thay vì cứ “nhắm mắt tin” vì đó là lời Chúa thì bây giờ tôi chỉ“tin vào điều đã từng trải, đã kinh qua và suy xét cho là đúng, có lợi cho mình và cho kẻ khác”. Tất cả hoàn toàn đều do một chữ duyên.

Thượng đế nào?
Có một lỗi lầm rất căn bản mà chúng ta thường vấp phạm là không xác định được thượng đế nào khi bàn về thượng đế, bởi vì có đủ thứ hầm bà lằng thượng đế. Từ khi có con người, mỗi bộ lạc, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có những ông thượng đế khác nhau. Tôn giáo nào cũng khẳng định chỉ có thượng đế mình đang tôn thờ là chân thật nhất. Ngoài ra, tất cả các thượng đế khác hay thần linh của các tôn giáo khác đều là ma quỷ, mê tín dị đoan, sản phẩm của tưởng tượng.Mỗi tôn giáo đều có những niềm tin đặc thù, nhiều khi còn mâu thuẫn, đối nghịch với nhau, không thể tất cả cùng đúng. Vẽ người mới khó, chứ vẽ ma quỷ thì dễ vẽ vô cùng!
Vậy thượng đế mà tôi đã bỏ cả cuộc đời để tìm kiếm là ông thượng đế nào? Có phải Ngài là một hữu thể sáng tạo, luôn luôn quan tâm và lo lắng cho đời sống của con người trần gian như Thiên Chúa của Độc Thần Giáo; hay đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người đã một thời được dân gian thờ cúng như các thần linh trong Phiếm Thần; hay Ngài chỉ là cái nguyên nhân đầu tiên khởi động vũ trụ, rồi sau đó hoàn toàn lãnh đạm, không còn màng đến nó nữa, như một số khoa học gia một thời tin theo Tự Nhiên Thần Giáo, trước khi có sự khẳng định của nhà vật lý thắng giải Nobel, Stephen Hawking, về việc vũ trụ có thể tự sinh do chính các định luật của thiên nhiên?

Bởi vì tôi đã từng là một người Công Giáo nên chỉ muốn bàn về một thượng đế hữu ngã, có nhân tính (personal God) của Độc Thần Giáo, một thượng đế có đầy đủ hỉ nộ ái ố, đối nghịch với thượng đế vô ngã (impersonal god) được hiểu bàng bạc và mơ hồ trong Tự Nhiên Thần Giáo, Ấn Độ Giáo, và ngay cả trong Phật Giáo. Người Thiên Chúa Giáo gọi thượng đế là Thiên Chúa, và chỉ có một Chúa duy nhất, chủ ý bao gồm tất cả các thượng đế hay thần linh của các tôn giáo khác, kể cả ông trời trong dân gian VN còn được gọi là Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, Giê-su của Thiên Chúa Giáo là Thiên Chúa, nhưng Gia-vê của Do Thái Giáo và Allah của Hồi Giáo cũng vẫn là Thiên Chúa, mặc dù người Do Thái Giáo và Hồi Giáo không phải là người Thiên Chúa Giáo vì họ không tin Giê-su.

Như vậy, đối với người Thiên Chúa Giáo, nhân vật Giê-su, một người đàn ông sinh ra ở Do Thái cách nay hơn 2.000 năm, chính là Đức Ki-tô, cũng là Thiên Chúa, cũng là thượng đế, cũng là đấng sáng tạo trời đất và muôn loài, có những thuộc tính toàn năng, toàn hảo, toàn trí, toàn thiện, ở khắp mọi nơi, thường hay chăm lo và can thiệp tới những công việc của loài người qua các phép lạ như đã có bàn đầy dẫy trong hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước.

Người Công Giáo tin vào Thiên Chúa quan phòng bằng câu răn dạy rằng “một sợi tóc trên đầu rụng xuống không ngoài thánh ý của Thiên Chúa”. Khi tôi khôn lớn hơn và có thể suy nghĩ độc lập thì mới nhận ra tất cả chỉ là “thánh ý” của Vatican, một quốc gia ngoại tộc, có cơ cấu và tổ chức độc tài toàn trị nhất trong thế giới, và là thành viên của Liên Hiệp Quốc như bao các quốc gia độc lập khác.

Khi đọc các luận chứng mà các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo đã trưng ra, tất cả đều không thuyết phục đối với những người có đầu óc tìm hiểu theo phương pháp của khoa học. Các triết gia và khoa học gia đã trưng ra cho chúng ta thấy những ngụy biện nội tại, nằm ngay trong các luận chứng. Và đó chính là lý do tại sao Công Giáo muốn người tín hữu phải có niềm tin, được thăng hoa thành một đức hạnh lớn nhất trong mọi đức hạnh: ĐỨC TIN. Đó là một cái bẩy xập mà những người tín hữu đã tự nguyện nhắm mắt ngay từ khi mới chào đời thì không dễ gì còn có thể nhìn thấy.

Không có khoa học nào khuyến khích chúng ta tin những điều đối nghịch với lý lẽ, với những quan sát thông thường, và với các bằng chứng hiển nhiên trước mắt. Tính nghi ngờ, sự suy xét chín chắn, tìm hiểu có phê phán là phẩm hạnh cần thiết, được đòi hỏi trong tất cả các bộ môn khoa học, đối nghịch với đức tin của Công Giáo. Nếu không phải để cổ vũ cho những điều vô lý thì chẳng cần bịa ra đức tin. [4] Chỉ với mục đích bảo vệ và phát triển đạo Công Giáo, con người đã bị nhồi sọ bằng việc tự lừa dối chính mình, cứ nhắm mắt trước tất cả mọi bằng chứng hiển nhiên, đối nghịch, và chỉ tin vào một thẩm quyền của Hội “Thánh” hơn là khả năng phán đoán của chính họ, tất cả nằm ở lời Chúa dạy: “Phúc cho những ai không thấy mà tin!”

Thực ra, sự hiện hữu của Thiên Chúa chỉ là một giả định hoang tưởng mà chưa ai có thể chứng minh, một giả định có từ thời tiền sử, đối nghịch với các khám phá của khoa học.
Ngay ý niệm thượng đế đơn thuần như là nguyên nhân đầu tiên để khởi động vụ nỗ lớn (big bang) cũng đã bị khoa học loại bỏ; bởi vì vũ trụ này thì vô tận, đã có từ vô thủy vô chung, nghĩa là không có khởi đầu và chấm dứt nên không cần phải có nguyên nhân đầu tiên. Mang thượng đế để gán cho một nguyên nhân đầu tiên làm tác động vụ nỗ lớn đã trở nên dư thừa, không còn cần thiết nữa. Chỉ cần đơn giản đặt một câu hỏi “vậy ai sinh ra thượng đế” thì cũng đủ đánh đổ mọi luận chứng biện minh cho sự tồn tại của một thượng đế như là nguyên nhân đầu tiên.
Nhưng thượng đế của Thiên Chúa Giáo lại còn là một sinh vật rất yêu thương và chăm lo cho phúc lợi của con người. Nếu chúng ta dùng lý luận thuần lý của Parmenides, một triết gia cổ Hy lạp, thì cũng đủ đánh đổ sự tồn tại của Thiên Chúa, một thượng đế hữu ngã có đầy đủ nhân tính; bởi vì không thể có sự hiện hữu của bất cứ thứ gì có những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau. Bởi vậy, khi nhìn thấy thế giới này tràn đầy mọi sự dữ, và sự dữ vẫn cứ xảy đến cho đủ mọi hạng người, kể cả những người đã bỏ cả cuộc đời để theo Chúa, Epicurus lý luận như sau từ mấy ngàn năm trước:

·         -  Có phải Thiên Chúa rất muốn ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không thể? Vậy Thiên Chúa đâu phải là toàn năng.
·         -  Có phải Thiên Chúa có thể ngăn ngừa sự dữ nhưng lại không muốn? Vậy Thiên Chúa đâu có nhân từ và thương yêu con người.
·        -  Có phải Thiên Chúa có thể và rất muốn ngăn ngừa sự dữ? Vậy tại sao lại có sự dữ đầy dẫy ở trong thế gian này?
·         -  Phải chăng Thiên Chúa không thể và cũng không muốn ngăn ngừa sự dữ? Thế thì tại sao cần phải tôn thờ Thiên Chúa?

Trong bài Không Thể Có Thượng Đế, tác giả Richard Dawkins cũng lập luận như sau:
“Có một sự thôi thúc để lập luận rằng mặc dù không cần thượng đế để giải thích sự tiến hóa của một trật tự phức tạp một khi vũ trụ đã khởi động với những định luật vật lý căn bản của nó, chúng ta vẫn cần đến một thượng đế để giải thích nguồn gốc của mọi sự vật. Ý tưởng này không có dành cho thượng đế làm nhiều điều: chỉ việc tạo ra vụ nổ lớn rồi ngồi đó và chờ đợi mọi sự sẽ xảy ra. Nhà vật lý và hóa học Peter Atkins, trong cuốn sách viết rất tuyệt của ông, Sự Sáng Tạo, quy định một thượng đế lười biếng đã làm việc ít nhất có thể để khởi sự đủ mọi thứ. Atkins giải thích từng bước của lịch sử vũ trụ tiếp nối nhau bằng định luật vật lý đơn giản. Như vậy, ông đã xén dần số lượng việc làm mà một thượng đế lười biếng cần làm và cuối cùng kết luận rằng, thực vậy, thượng đế chẳng cần để làm bất cứ một điều gì.” [5]

Bởi vì Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo thuộc nhóm Độc Thần Giáo đều đã được xây dựng trên nền tảng của một giả định hoang tưởng nên những cố gắng chứng minh của họ đã hoàn toàn thất bại đối với dòng tiến hóa tư tưởng của nhân loại. Bởi đó, họ mới phải viện dẫn đến đức tin như một cái bẩy xập để nô lệ hóa tâm linh con người. Và cái bẩy xập này hiện đang được họ bảo vệ rất chặt chẽ, có hệ thống. Ai dám đụng chạm, phỉ báng niềm tin của họ thì chỉ có tội chết. Những bạo động của họ được tôn giáo phong thánh. Cây gậy và củ cà rốt - hình phạt hỏa ngục hay phần thưởng thiên đàng -  luôn luôn là nỗi ám ảnh và động cơ khích lệ cho những điều gian ác, nhân danh việc bảo vệ tôn giáo. Chỉ cần gọi tên đúng hoặc sai cái ông thượng đế tưởng tượng kia là Ki-tô, hay Allah, hay Gia-vê, hay Giê-su, cũng đủ đưa đến kết quả hoặc thiên đường hay địa ngục, làm phân chia ranh giới giữa con người, làm động cơ cho những đối xử tàn ác, không khoan nhượng với những kẻ không cùng niềm tin như họ, những kẻ mà họ vẫn hằng ngày khinh thường gọi là quân man di, mọi rợ, dị giáo, vô đạo, kẻ thù, sa-tan, hoặc quân vô thần.

Trong tất cả mọi lĩnh vực, ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề là chuyện bình thường hằng ngày ở huyện. Nhưng riêng ở trong lĩnh vực tôn giáo, chỉ cần khác nhau một niềm tin thì cũng đủ có thể biến bạn thành thù. Và tôi cũng đã từng trải nghiệm những người bạn một thời rất thân thương hiện đang xem tôi như một kẻ tử thù. Tất cả chỉ tại vì chúng tôi không còn có cùng một niềm tin tôn giáo.

Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp
Tôi là một kỹ sư cơ khí, chuyên về ngành kỹ nghệ không gian, hiện đang còn làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ. Một trong các công việc chính yếu nhất của tôi là làm những cuộc điều tra để xác định nguyên nhân một bộ phận của máy bay bị hư hại trước thời hạn để từ đó đưa ra những đề nghị: hoặc có nên tiếp tục sửa chữa bộ phận theo cách thức đang có sẳn, hoặc công ty đang cung cấp có nên thay đổi thiết kế của bộ phận, hoặc có nên thay thế toàn bộ phận đó bằng một bộ phận khác của một công ty khác, hoặc có nên làm một thiết kế hoàn toàn mới khác. Tôi đã từng viết cả trăm bản tường trình đúc kết các cuộc điều tra (final engineering investigation report). Dĩ nhiên, một bản tường trình đúc kết như vậy luôn luôn là kết quả cộng tác của nhiều chuyên viên khác trong các ngành chuyên biệt, và còn từ cả nhiều công ty có liên hệ. Và tôi cũng đã từng đọc hằng trăm bản tường trình đúc kết khác của các đồng nghiệp. Có những cuộc điều tra rất đơn giản, chỉ liên quan đến một bộ phận không quan trọng, cho dù hư cũng chẳng gây hệ quả gì nghiêm trọng khi máy bay đang bay. Nhưng cũng đã có nhiều cuộc điều tra liên quan đến các bộ phận tối quan trọng (critical safety item), làm rớt máy bay, gây tử vong cho nhiều người, ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Khi làm công việc khoa học kỹ thuật này từ mấy chục năm nay, tôi đã nhận ra một điều rất đáng để suy nghĩ, là chưa bao giờ tôi thấy một kỹ sư đồng nghiệp nào đã khẳng định, hoặc cho dù chỉ suy đoán, rằng nguyên nhân chính yếu (root cause) làm rớt máy bay có nguồn gốc siêu tự nhiên. Nếu có một vị kỹ sư nào viết như vậy thì rõ ràng đó là một sự điên khùng có một không hai, một trò hề ngoài sức tưởng tượng.

Trong tất cả các phương trình khoa học, tuyệt đối không có yếu tố siêu nhiên để giải thích các hiện tượng. Tất cả mọi sự xảy ra trong vũ trụ này đều có nguyên nhân tự nhiên. Bởi thế, Einstein, một nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại, đã phát biểu rằng:
“Nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác, có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo cách thức khác.”

Thí dụ về chiếc máy bay dân sự Boeing 777-200ER của hãng hàng không Mã Lai, chuyến bay MH370, đã mất tích vào ngày 8 tháng 3 năm 2014 mà cho đến nay vẫn chưa tìm thấy dấu vết. Nếu chúng ta đem vào bất cứ một hữu thể thiêng liêng nào để giải thích một biến cố mà hiện nay khoa học chưa giải thích được, như là ý Chúa nhiệm mầu để giết chết tất cả 239 hành khách, thì rất ư là khôi hài, tàn nhẫn, độc ác, vô tâm, vô cảm, vô đạo, chắc chắn chẳng một ai tin. Có phải vì đó là ý Chúa thì chúng ta nên ngừng ngay mọi cố gắng tìm kiếm? Và những thiên tai, thảm họa không phải do con người như các trận động đất, núi lửa, sóng thần, mưa bão, lụt lội, và các bệnh dịch Si-đa, Ebola… thì sao? Có phải đó cũng là ý Chúa? Nếu “mọi sự đều do thánh ý Chúa, kể cả một sợi tóc trên đầu rụng xuống”, nghĩa là Thiên Chúa toàn năng có ý định muốn các biến cố đó phải xảy ra, thì chúng ta, những loài thụ tạo, làm sao có thể cưỡng chống? Và những cố gắng của con người để giải cứu các nạn nhân có phải rõ rệt là đang chống lại ý muốn nhiệm mầu của Thiên Chúa toàn năng?

Chúng ta vẫn thường được dạy “phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người thế gian” (Cv 5, 29) cho dù cả cuộc đời chúng ta chưa từng nghe Chúa nói, ngoài những lời nói của Vatican tự phong cho mình quyền đại diện Thiên Chúa để có thể cầm buộc dưới đất cũng như trên trời. Những lời tuyên bố, răn dạy như “chiên ta thì phải nghe tiếng ta”, “bỏ Ngài thì con theo với ai?”, hoặc “thà mất nước chẳng thà mất Chúa”… thì cũng chỉ để “vâng lời trong tuân phục”một thế lực tôn giáo hoàn vũ đã từng phải xưng thú bảy núi tội lỗi đối với đồng loại. Khi bảo rằng "của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” thì có khác gì đem cả linh hồn và trí khôn giao nạp cho quốc gia ngoại tộc Vatican?

Những thắc mắc của một con người còn dám sử dụng lý trí
Tôi đã cố gắng dành trọn cả cuộc đời này để đi tìm bằng chứng và dấu vết của Thiên Chúa, nhưng kết quả chỉ là một con số không to tướng, ngoài sự trống vắng, im lặng tuyệt đối. Từ đó, chỉ cần động não một chút, những câu hỏi và thắc mắc sau đây tự động tuôn ra trong đầu óc, nên xin được trình bày ở đây theo cách thức nghiêm túc của học thuật trí thức:


1.     Tại sao Thiên Chúa cứ phải che giấu thân phận mình? Chẳng phải chính Thiên Chúa đã xuống thế làm người để tỏ mình bằng xương bằng thịt cho thiên hạ thấy hay sao? Rồi có vô số phép lạ Chúa làm để tỏ mình đã được ghi chép trong các kinh sách Công Giáo. Không lẽ đó chẳng phải là ý Chúa muốn mọi người nhận biết Chúa là đấng thực hữu?
2.     Nếu Chúa đã từng tỏ mình ở trong quá khứ thì tại sao không còn tỏ mình ở trong hiện tại, cái thời hậu hiện đại mà khoa học có thể nghiên cứu, điều tra tường tận để vạch trần được mọi sự gian dối?
3.     Nhưng Thiên Chúa thì toàn năng, ở khắp mọi nơi, có thể làm được hết mọi sự, vậy tại sao ý muốn tỏ mình của một đấng Toàn Năng lại không thể thực hiện, cũng chẳng hiệu quả hơn gì ý muốn của các phàm nhân có rất nhiều giới hạn?
4.     Còn nếu Thiên Chúa đã thay đổi ý định, không muốn con người nhận biết Ngài nên không còn tỏ mình nữa, thì tại sao Giáo Hội Công Giáo cứ làm trái ý của Thiên Chúa trong suốt hơn 2.000 năm qua bằng cách phí công sức và tiền của để rao giảng về Thiên Chúa, núp dưới mỹ từ là “đem tin mừng cứu rỗi muôn dân”?
5.     Tại sao một đấng toàn năng, toàn trí như Thiên Chúa lại cần phải thay đổi ý định? Các phép lạ trong Công Giáo đang chứng minh bất khả phủ bác rằng Thiên Chúa đã phải thay đổi ý định nhiều lần chỉ vì lời van xin hay hối lộ của con người hèn mọn. Điều này thì hoàn toàn đối nghịch với tính toàn năng và toàn trí của Thiên Chúa.
6.     Tất cả những điều vô lý đó không phải đã chứng minh rõ ràng Giáo Hội Công Giáo đã và đang làm công việc buôn thần bán thánh, những thứ giả mạo, không có thực, từ hơn 2.000 năm nay sao?

Tôi đã được dạy rằng Thiên Chúa thì phải như thế này, phải như thế nọ; nhưng khi đã khôn lớn, những điều đó tự động trở nên hiển nhiên phi lý, ngớ ngẫn, hoàn toàn không còn thuyết phục. Những gì các ông thần học chí chóe bàn về Thiên Chúa thì cũng giống y chang như những gì thiên hạ vẽ hưu vẽ vượn trong các chuyện tiểu thuyết hư cấu hay thần thoại hoang đường. Khi còn là một đứa con nít, tôi tin hoàn toàn những chuyện nhảm nhí đó, không bao giờ có một chút thắc mắc. Bây giờ đã trưởng thành với đầy đủ trí khôn rồi, tôi không còn tin chúng nữa.
Như vậy, có sự khác biệt gì giữa một đức tin tôn giáo và niềm tin mê tín dị đoan, ngoài việc đức tin tôn giáo thì được cổ vũ, hỗ trợ, tuyên truyền, nhồi sọ, và rao bán bởi một tổ chức tôn giáo có thế lực nhất hoàn vũ; trong khi niềm tin bị cho là mê tín thì không, ai tin cũng được, không tin cũng chẳng sao? Vậy đức tin trong bản chất đích thực thì hoàn toàn đồng nghĩa với các niềm tin mê tín dị đoan khác trong dân gian.

Kết luận
Kết quả tìm kiếm suốt cả cuộc đời tôi về sự tồn tại của Thiên Chúa là một sự im lặng tuyệt đối, trống không. Đó chẳng phải là một điều lạ lùng gì! Những thắc mắc ở trên đã minh xác rằng Thiên Chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người, cũng giống như các nhân vật trong các chuyện tiểu thuyết hay thần thoại hoang đường, không hơn không kém. Sự việc Chúa phải im lặng, che giấu thân phận, là chuyện đương nhiên, tất yếu, không thể khác được. Có sinh vật tưởng tượng nào mà chẳng phải tuyệt đối giữ im lặng?
Do đó, tôi có thể bảo đảm rằng nếu chúng ta tôn thờ và cầu nguyện với bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào bằng một đức tin không lay chuyển như chúng ta đang tôn thờ và cầu nguyện nơi Thiên Chúa thì chúng ta cũng sẽ nhận được những điều từ họ như những điều chúng ta nhận được từ Thiên Chúa.

Những luận chứng của các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo cố gắng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa đều hoàn toàn có thể áp dụng để chứng minh cho sự hiện hữu của bất cứ một sinh vật tưởng tượng nào. Mặc dù vậy, trên đời này chẳng có ai đã trưởng thành còn tin vào sự hiện hữu của các sinh vật tưởng tượng trong tiểu thuyết thần thoại hoang đường, nhưng lại có vô số người tin có Thiên Chúa. Vậy đó chính là kết quả của một nền giáo dục và tuyên truyền nhồi sọ, không phải một tặng phẩm hay hồng ân do Chúa ban.

Các phép lạ, những biến cố vi phạm các định luật của khoa học, thì ở trong tôn giáo hay thần thoại nào cũng có. Đức tin trong thực chất không thể đi đôi với khoa học. Thiên Chúa cũng giống như đôi nạng gỗ. Nếu ai phải cần cặp nạng đó để có thể đi đứng vững vàng thì xin cứ việc tự do, thoải mái sử dụng, nhưng đừng bao giờ mong muốn người khác cũng phải đi bằng đôi nạng gỗ như mình. Đối với những người còn dám sử dụng lý trí, họ vẫn cứ đi đứng thoải mái, vững vàng bằng chính đôi chân của họ mà chẳng cần cặp nạng gỗ. Và tôi tin chắc rằng chúng ta cũng có thể đi đứng như họ, nếu muốn.

Con người chúng ta đích thực là những con ếch ngồi dưới đáy giếng hoặc những thằng mù sờ chân voi nhưng lại thích bàn chuyện trên trời. Có một điều lạ lùng, vô lý và rất khôi hài là khi các nhà khoa học bàn chuyện trên trời thì chúng ta gọi họ là những thằng mù hay con ếch; nhưng khi những con ếch hay thằng mù ngồi ở đáy giếng tận bên Vatican bàn chuyện trên trời thì chúng ta lại gọi “đó là lời Chúa”.

Đứng trước những sự kiện bất khả phủ bác, các nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo không thể phản biện được bất cứ điều gì, ngoài việc tiếp tục dèm pha, tấn công tư cách cá nhân của các tác giả. Họ thường kết án thiên hạ cái tội đánh phá tôn giáo. Nhưng thưa bạn, việc bảo vệ và phục vụ chân lý, hay bảo vệ và phục vụ tôn giáo, việc nào thì quan trọng, nên làm hơn? Hỏi tức là đã trả lời, bởi vì “chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta”. Tôn giáo chỉ là một trong muôn vàn con đường dẫn ta đến các chân lý, không phải tự nó đang là chân lý. Nó chỉ là phương tiện, không phải cùng đích của cuộc đời chúng ta mong tìm kiếm. Chắc chắn không có tôn giáo nào cao trọng hơn sự thật, kể cả Công Giáo.

Riêng cá nhân tôi còn bị kết án thêm cái tội ăn cháo đá bát. Vậy tôi xin trích dẫn quan điểm của tác giả Robert Ingersollđể trả lời cho lời cáo buộc này. Ông được người đời tôn vinh là Người Không Tin Vĩ Đại (The Great Agnostic) vì đã khước từ những niềm tin của gia đình và tổ tiên sau khi ông đã trưởng thành. Trong bài Tại Sao Tôi Là Người Không Tin, ông biện giải như sau:

“Nếu chúng ta phải theo tôn giáo của cha mẹ chúng ta thì cha mẹ chúng ta cũng phải theo tôn giáo của họ. Như vậy thì đã không thể có sự tiến bộ trong lĩnh vực tư tưởng. Tôn giáo đầu tiên có lẽ đã là tôn giáo cuối cùng, và người con có lẽ đã chết trong sự ngu dốt như người mẹ. Sự tiến bộ có lẽ đã không có, và sự thông minh của nhân loại có lẽ đã bị hy sinh ở tại những ngôi mộ của các tổ tiên.” [2]

Vậy thưa bạn, cái tội đánh phá tôn giáo, hay cái tội đánh phá chân lý để làm cản trở sự tiến bộ tri thức của con người, tội nào là tội nặng hơn cả? Nếu tôi viết sai, xin bạn hãy chỉ ra cái sai nằm ở chỗ nào; còn nếu tôi viết đúng, tại sao lại kết án tôi?

Trần Tiên Long
Mùa lễ nghỉ Noel 2014
____________________
Ghi chú:
[1] Tại Sao Tôi Không Phải Là Người Thiên Chúa Giáo / Why I am not a Christian by Bertrand Russell. Nguồn:http://www.users.drew.edu/~jlenz/whynot.html
[2] Tại Sao Tôi Là Người Không Tin / Why am I an agnostic by Robert Ingersoll. Trần Tiên Long chuyển ngữ. Nguồn:
Phần I: http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5213
Phần II: http://sachhiem.net/TTL/TranTL15a.php
[3] Hành Hương Đất Phật, Phan Thiết, Chương 1, Vô Tự Chân Kinh, trang 31, Southern Stars Publisher, Australia
[4] Miên Man Chuyện Đức Tin / Trần Tiên Long. Nguồn:http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5924
[5] Không Thể Có Thượng Đế / The Improbability of God by Richard Dawkins. Trần Tiên Long chuyển ngữ. Nguồn: http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5013



Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014


HÃY BAY VỚI HAI CÁNH VÀO HIỆN ĐẠI 

Cao Huy Thuần



Tây phương biết Phật giáo từ hồi đầu thế kỷ 19. Nhưng hồi đó chỉ mới một số ít học giả và triết gia khám phá ra sức thu hút của một tư tưởng đến từ phương Đông mà người ta không biết nên gọi là tôn giáo hay triết lý. Âm thầm, “im lặng, Phật giáo lan ra xã hội, phát triển khắp nơi ở châu Âu” (1) từ giữa thế kỷ 19 cùng với sự phát triển của trào lưu tiến hóa mà ngày nay ta gọi là hiện đại. Âm thầm, im lặng như thế cho đến đầu những năm 60 của thế kỳ 20 thì Phật giáo bỗng được tiếp nhận rộn ràng trong giới trẻ khi giới này phất lên một phong trào văn hóa phản kháng (contre-culture) chống lại văn hóa tôn sùng kỹ thuật, vật chất và tiền bạc. Giới trẻ khao khát một đời sống tâm linh mới giúp họ giải quyết những vấn đề tâm lý, hiện sinh, và họ nghĩ đã tìm được nơi Phật giáo. Đó là lúc mà nhiều trí thức trẻ tìm đến Tây Tạng như tìm đến miền đất hứa. Nhanh chóng, trong vòng hai mươi năm, tu viện và thiền viện mọc lên hàng trăm ngôi trên khắp Âu Mỹ. Giới trẻ - học thức và trung lưu - gặp một thứ hạnh phúc mới mà họ thực chứng được bằng kinh nghiệm tu học bản thân trong các thiền đường. Đến những năm 90 thì báo chí, truyền thông rộ lên cả một cao trào tin tức, bình luận, phóng sự, hình ảnh đầy cảm tình với Phật giáo. Cùng lúc, Hollywood nồng nhiệt đưa lên màn ảnh phim truyện về cuộc đời của đức Phật, về ngài Đạt Lai Lạt Ma, về Tây Tạng, nhiều ngôi sao màn bạc, nghệ sĩ, ca sĩ danh tiếng trở thành Phật tử, khiến dư luận, quần chúng, càng có cảm tình hơn. Bây giờ thì Phật giáo đã mọc rễ, đã phát triển trong xã hội, trong đời sống văn hóa ở Âu Mỹ. Phật giáo là môn học được ưa chuộng trong các trường đại học Mỹ danh tiếng, thu hút sinh viên ngày càng đông.

Thưa Quý Vị và các bạn thân mến, tôi rất vinh đự được nói chuyện với Quý Vị trong Tuần Lễ Văn Hóa này, và rất vui mừng được đặc biệt làm quen với các bậc trí thức và các bạn trẻ. Trong mấy câu nhập đề sơ lược ở trên, chắc quý vị và các bạn đã để ý: tôi nhấn mạnh đến giới trẻ và trí thức. Chẳng phải vì tôi thuộc vào thành phần ấy. Mà vì đó là khía cạnh mà tôi muốn hạn chế trong đề tài của tôi. Âu Mỹ đang mở lòng tiếp nhận một tư tưởng, một tôn giáo mà họ cho là rất trẻ và rất hiện đại. Hiện đại: đó là khía cạnh của đề tài rộng lớn mà tôi sẽ nói chuyện với quý vị hôm nay: tại sao Phật giáo bành trướng được ảnh hưởng trên Âu Mỹ? Bài nói chuyện của tôi sẽ gồm 4 điểm vây quanh chủ đề hiện đại. Trong điểm thứ nhất, tôi sẽ cắt nghĩa thế nào là hiện đại. Trong điểm thứ hai, tôi trình bày: Phật giáo thích hợp với hiện đại như thế nào. Trong điểm thứ ba, tôi sẽ nói: thế nhưng chính hiện đại đang bị khủng hoảng. Trong điểm thứ tư, tôi trả lời: chính vì hiện đại bị khủng hoảng mà Phật giáo lại càng thích ứng. Trong suốt bài nói chuyện của tôi, và nhất là trong phần kết luận, các bạn sẽ nhận ra rằng tôi nói chuyện phương Tây mà thật ra là tôi nói chuyện Việt Nam. Mở cửa nhìn ra thế giới, chính là để biết mình là gì và biết mình phải làm gì.

I. Vậy thì, điểm thứ nhất:
Thế nào là hiện đại? Hiện đại là gì? Từ ngữ này đã trở thành quá phổ thông, đã bị pha loãng ra trong ngôn ngữ thường ngày, ở ta cũng như ở Âu Mỹ, cho nên phải trở về lại với lịch sử để tìm bản chất của nó. Thông thường, ta dùng từ hiện đại để nói cái gì là mới, ngầm ý tán thưởng: mới là hơn cũ, nay là hơn xưa. Thì cũng đúng thôi! Nhưng có người sẽ nói trái lại: chắc gì mới đã hơn cũ, chắc gì nay đã hơn xưa! Ở thời nào cũng vậy, và ở xã hội nào cũng vậy, hai khuynh hướng cứ đối chọi nhau: một muốn đi tới, một muốn kéo lui, một cách tân, một hoài cổ, bên nào cũng muốn biện minh khuynh hướng của mình, và nếu biện minh có hệ thống thì trở thành ý thức hệ, trở thành chủ nghĩa, “chủ nghĩa hiện đại” chống lại “chủ nghĩa truyền thống”. Để tránh cả hai cực đoan, cực đoan của phe mới cũng như cực đoan của phe cũ, tôi lần theo chiều lịch sử phân tích đâu là những yếu tố tạo thành cái mà ta gọi là hiện đại.

Yếu tố quan trọng nhất là tự chủ, là con người tự chủ, con người tự mình làm chủ mình. Làm chủ là thế nào? Kant đã cắt nghĩa bằng một câu bất hủ khi được hỏi: “Khai Sáng là gì?” Ông trả lời: “Là con người bước ra khỏi tình trạng vị thành niên”. Trước khi tư tưởng Khai Sáng bừng nở, con người hãy còn thơ ấu, phải vịn vào tay người lớn mà đi, bây giờ đi được một mình. Chữ Pháp, chữ Anh làm rõ hơn nghĩa đó. Autonomie có gốc Hy Lạp là autos (tự mình) và nomos (luật) : con người tự mình cai trị mình theo luật tự mình làm lấy, chứ không phải luật do người khác làm ra và bắt mình phải theo. Và luật do mình làm ra dựa trên cái gì? Dựa trên lý trí, lý tính mà đã là người thì ai cũng có. “Hãy có can đảm sử dụng lý tính của chính mình!”: đó là châm ngôn của Khai Sáng và cũng là châm ngôn của con người hiện đại. Đừng dựa nữa vào bất cứ cái gì ở ngoài con người, nhất là ở trên cao. Hãy đứng dậy, đừng vịn nữa vào Thượng Đế!
Từ yếu tố quan trọng nhất đó, từ tự chủ, cả một loạt các yếu tố khác sáng rõ ra, bắt đầu là sự giải phóng của lý tính phê phán, bởi vì phê phán là chức năng của lý tính. Không có gì được thoát ra khỏi phê phán, không có đối tượng nào được xem là Tuyệt Đối, là húy kỵ, kể cả Thượng Đế, kể cả Nhà Thờ. Kant hô to: “Hãy dám tư tưởng!” Không có lĩnh vực nào là lĩnh vực riêng của bất cứ quyền uy nào: tất cả đều phải bước qua “tòa án của lý tính”.

Trước tòa án đó, bị cáo mà tư tưởng hiện đại nhắm đến trước tiên là lòng tin tôn giáo. Phải giải phóng lý tính ra khỏi lòng tin. Phải giải phóng Galilée ra khỏi lòng tin nô lệ, tin rằng mặt trời xoay chung quanh trái đất. Với lý tính, khoa học sẽ phát triển, và khoa học có khả năng vén những tấm màn bí mật của vũ trụ mà lòng tin cố cản. Khoa học, tư tưởng khoa học, đó là ánh sáng dẫn đường cho tính hiện đại, giúp con người tự mình biến đổi thế giới, làm thành thế giới của con người, đập tan mọi xiềng xích của mê muội. Khoa học sẽ phát triển không ngừng, do đó tiến bộ cũng đi tới không ngừng, tiến bộ giống như mũi tên bắn ra, chỉ bay thẳng phía trước, không ngoằn ngoèo, vòng vo.

Với tự chủ của con người trưởng thành, với lý tính được giải phóng ra khỏi lòng tin, với khoa học vén màn bí mật, các bạn thấy lịch sử của tư tưởng Âu châu cứ dần dần đi vào chiều hướng củng cố địa vị của con người, bắt đầu từ thời Phục Hưng (thế kỷ XIV-XVI). Chiều hướng đó, khuynh hướng đó, cao trào đó, tên của nó là nhân bản chủ nghĩa (humanisme). Không thể hiểu được tư tưởng Âu châu nếu không thấy cái hướng đi đó của chủ nghĩa nhân bản, và cũng không thể hiểu được hiện đại là gì nếu trước hết không hiểu sự giằng co, có khi âm thầm, có khi dữ dội, giữa Thiên chúa giáo và nhân bản chủ nghĩa (2). Cố gắng, cố gắng không ngừng để phát triển, phát triển không ngừng tất cả những khả năng của con người để đừng làm mất đi bất cứ cái gì làm con người lớn lên, làm con người vinh thăng. Lớn lên bằng cách nào trong lịch sử Âu châu? Bằng cách làm bớt đi, làm nhỏ dần Thượng Đế. Cho đến thế kỷ 19 thì Nietzsche loan báo: “Thượng Đế chết rồi! Chúng ta đã giết!


Friedrich Wilheim Nietzsche (1844-1900) và Der Antichrist (1895)

Sự thực là Thượng Dế vẫn còn đấy thôi, nhưng thay hình đổi dạng, không còn là Thượng Đế nhân dạng nữa. Mà cũng chẳng còn thống trị nữa trong tư tưởng, trong đời sống xã hội, trong luật pháp, trong chính trị, trong sinh hoạt thường ngày của người Âu châu. Thế kỷ 20 không còn đặt vấn đề giết Thượng Đế nữa, bởi vì người ta sống ngoài vòng cương tỏa của Thượng Đế, chẳng cần biết Thượng Đế là ai, có hay không, và chính thái độ dửng dưng đó làm các người bênh vực Thượng Đế bực mình còn hơn là thái độ chống đối Thượng Đế. Xã hội ngày nay ở châu Âu đi vào tình trạng mà các nhà xã hội học gọi là thế tục hóa. Thế tục hóa: đó cũng là một trong những yếu tố đặc trưng của hiện đại. Trên quá trình hiện đại hóa đó thì Tây phương gặp đạo Phật.

II. Đạo Phật hiện đại như thế nào trước mắt Tây phương?
Con người Tây phương khám phá ra rằng cách đặt vấn đề của đạo Phật đáp ứng nhu cầu của thời đại mới. Tây phương đang chối từ Thượng Đế thì đạo Phật giải thích không có Thượng Đế. Tây phương phải nhờ Darwin để cắt nghĩa rằng vũ trụ không phải do một Đấng nào sáng tạo ra cả trong bảy ngày thì đạo Phật đã nói cách đây hơn 2500 năm rằng thời gian là vô thủy vô chung, vũ trụ là vô cùng vô tận. Tây phương ngay ngáy lo sợ về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế thì Phật giáo nói: không có ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi. Tây phương trăn trở về những vấn đề siêu hình thì Phật giao kể chuyện mũi tên: khi anh bị mũi tên độc bắn vào thân thì anh phải rút nó ra ngay hay anh ca vọng cổ hỏi mũi tên do ai bắn, lý lịch thế nào, hộ khẩu ở đâu. Rút mũi tên ra: đó là nhu cầu giải phóng con người ở Tây phương và họ thấy nơi Phật giáo một đáp số hợp với lý tính, đặt nặng trên kinh nghiệm, trên thực hành, và kiểm chứng được bằng kết quả bản thân, ở ngay đời này, chứ không phải đợi đến khi lên thiên đường, xuống địa ngục.

Hợp với lý tính: người Tây phương ngưỡng mộ nét đặc biệt đó của Phật giáo, làm Phật giáo khác với các tôn giáo khác. Phật giáo từ chối lòng tin nếu không đặt cơ sở trên trí tuệ. Bởi vậy, trong Phật giáo không có tín điều. Tây phương ngưỡng mộ kinh Kâlâma khi Phật dạy: Đừng vội tin một điều gì dù điều đó được ghi trong kinh điển hay sách vở. Hãy quan sát, suy tư, thể nghiệm, thực chứng rồi mới tin. Tinh thần đó xuyên suốt kinh kệ Phật giáo. Người trí thức Tây phương thấy tinh thần đó hợp với khoa học, hợp với đầu óc phê phán. “Phật giáo là tôn giáo duy nhất thích ứng với khoa học hiện đại”, Einstein đã phát biểu như vậy.

Tại sao Phật giáo hợp với khoa học? Tại vì Phật giáo không nói điều gì mà không có kiểm chứng. Phật giáo nói: sự vật là vô thường. Hãy nhìn chung quanh với mắt của mình, kinh nghiệm của mình: có cái gì là thường còn đâu? Cái thường còn duy nhất là khoảnh khắc này đây. Vậy thì tìm thiên đường ở đâu nếu không phải nơi chính cái khoảnh khắc này? Hạnh phúc nằm ngay nơi mỗi khoảnh khắc: đó là bài học hiện đại quý giá nhất mà Phật giáo đem đến cho người Tây phương. Và hãy nhìn thêm nữa: mọi sự mọi vật đều tương quan lẫn nhau mà có và tương quan lẫn nhau mà diệt. Màu hồng nơi đóa hoa kia có phải tự nó mà có không? Đâu phải! Nếu không có mặt trời thì nó đâu có hồng thắm như vậy? Nhưng mặt trời có phải là tác giả duy nhất của màu hồng kia không? Không! Vì nếu không có mưa thì làm sao hoa sống? Nhưng mưa có cũng là do mây, mây có cũng là do hơi nước. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia cũng không. Đó là luật vô ngã của Phật giáo và cũng là luật tương quan tương sinh.
Ai đọc sách của nhà vũ trụ vật lý học Trịnh Xuân Thuận đều biết: những luật đó có nhiều điểm hội tụ với khoa học vũ trụ vật lý. Áp dụng được luật đó vào đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời sống xã hội, cam đoan không cần tìm thiên đường ở đâu xa. Đó là chưa kể đến luật nhân quả mà ai cũng có thể dễ kiểm chứng. Từ đó, người Tây phương đi đến một cái nhìn hiện đại hơn nữa vào bản chất của cuộc đời để hiểu chữ “khổ” trong Phật giáo. Họ chất vấn Thượng Đế: Nếu Thượng Đế là toàn năng thì sinh ra làm chi thiên tai, động đất, triều cường, dịch này dịch nọ giết hại phút chốc hàng trăm ngàn người như vậy? Nếu Ngài là nhân từ thì sao con người khổ thế, con người khổ thế thì Ngài ở đâu? Phải chăng, người Tây phương hỏi, khổ nằm ngay trong bản chất của cuộc đời như muối nằm trong biển, mà sinh lão bệnh tử chỉ là những khía cạnh dễ thấy nhất? Từ đó, Tây phương hiểu chữ “niết bàn” của Phật giáo đúng hơn hồi thế kỷ 19: niết bàn là hết khổ, mà hết khổ là tự mình. Bản thân tôi, mỗi khi tôi nghe ai cầu cho người chết được siêu thoát, tôi không khỏi cười thầm, bởi vì “siêu” là vượt lên, “thoát” là giải thoát, vượt lên trên tham sân si thì giải thoát, vậy thì nên cầu cho cả người sống được siêu thoát. Tôi không dám đùa đâu, người Tây phương hiểu điều đó hơn ta, bởi vì họ hiểu tư tưởng nhân bản của chính họ: nhân bản nghĩa là con người vượt lên trên con người, con người có đủ khả năng để vượt lên trên chính mình.

“…nhân bản nghĩa là con người vượt lên trên con người,
con người có đủ khả năng để vượt lên trên chính mình.”

Nhưng vượt lên như thế nào, cụ thể bằng cách nào? Đây là cái mới mà Phật giáo đem đến cho Tây phương và đem đến trong tinh thần khoa học. Trong lịch sử, Tây phương đã vượt quá ta hằng mấy thế kỷ nhờ khám phá thế giới bên ngoài. Nhưng đến một lúc họ bỗng giật mình thấy rằng khám phá thế giới bên ngoài không đủ để đem lại hạnh phúc như họ tưởng bởi vì con người còn có đời sống ở bên trong. Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhắc họ: “Những vấn đề của chúng ta, dù đến từ bên ngoài, như chiến tranh, như bạo lực, như tội ác, hay đến từ bên trong dưới hình thức khổ đau về tâm lý hay tình cảm, đều sẽ không tìm ra giải pháp chừng nào chúng ta còn không hiểu chiều sâu nội tâm của ta” (3). Đó là lúc mà ngài và các vị sư đắc đạo của Tây Tạng đến Âu Mỹ, mang theo một ánh sáng khoa học mới rọi soi vào nội tâm của con người, để làm một cuộc cách mạng thứ hai mà người Tây phương gọi là “cách mạng ở bên trong”, bổ túc cho “cách mạng ở bên ngoài” mà Tây phương đã từng làm, từng biết với khoa học. Chìa khóa của hạnh phúc không nằm ở đâu khác hơn là trong nội tâm mỗi cá nhân. Mà muốn nhìn thấy cái chìa khóa đó thì phải rọi soi vào bên trong bằng những kỹ thuật thiền định mà các nhà sư Tây Tạng đã thực chứng do chính kinh nghiệm của họ. Trong lĩnh vực này, đừng hòng các lang băm đến làm ăn bịp bợm: khoa học Âu Mỹ đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc thám hiểm vào não bộ của con người. Các nhà sư Tậy Tạng đã đem chính bản thân để các máy móc tối tân trong các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đo lường ảnh hưởng của thiền định trên não bộ. Họ không phải chỉ đem lời nói, họ đem thực hành, họ đem kỹ thuật, phương pháp cụ thể để các nhà khoa học quan sát, phán xét tính hiệu nghiệm của thiền định, góp phần lớn vào sự phát triển của ngành sinh học thần kinh. Tôi xin thú thực: bản thân tôi có tính đa nghi, khi đọc lịch sử đức Phật, tôi không hiểu làm sao Phật có thể ngồi thiền định dưới bóng cây bồ đề trong suốt 49 ngày. Bây giờ thì tôi hiểu: mỗi người chúng ta đều có một sức dự trữ tâm linh mà ta không ngờ bởi vì chưa bao giờ sử dụng. Tôi sẽ trở lui lại điểm này - cuộc hành trình của ta tìm ta để chữa bệnh cho chính ta và chữa bệnh cho thời đại.

Bây giờ, tiếp tục vấn đề nhân bản và khoa học, có phải sức quyến rũ của Phật giáo chỉ nằm ở tính khoa học của Phật giáo mà thôi hay không? Tôi không nói đến chiều sâu của triết lý Phật giáo ở đây, cũng không nói đến tính minh triết mà Tây phương đang tìm lại. Tôi chỉ hạn chế trong một vấn đề nữa thôi: đạo đức. Đạo đức học ở Tây phương là những răn cấm, những mệnh lệnh. Người Tây phương hiện đại có cảm tưởng như có ngón tay chỉ vào trán và ra lệnh: mày không được thế này, mày không được thế kia, mày làm là phạm tội. Phạm tội với ai? Tại sao như thế là phạm tội? Tại sao tội đó phải nhờ một người khác giải tội với Trên Cao? Đạo đức đó, con người hiện đại chối bỏ vì họ cảm thấy như vậy là hãy còn vị thành niên. Đạo đức của Phật giáo trái hẳn, bắt nguồn từ con người. Không ai ra lệnh, không ai răn cấm. Phật giáo nói: tham thì khổ, sân thì khổ, si thì khổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ bi hỷ xả, cứ thực hành sẽ thấy vui. Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng giết hại, đừng nói dối, đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu: đó là năm điều tôi tự nguyện với tôi, làm được đến đâu chính tôi nhẹ nhàng đến đó. Đạo đức của Phật giáo là thực nghiệm, nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm nội tâm thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc.

Hơn thế nữa, đạo đức Phật giáo còn thức tỉnh con người hiện đại ở Tây phương ở chỗ nới rộng lòng từ bi và ý thức liên đới ra khắp chung quanh, không những giữa người với người, mà còn giữa người với thú vật, với thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của tôn giáo cổ truyền của họ, Tây phương đã cổ vũ, huy động từ thế kỷ 17 mọi cố gắng để chinh phục, cai trị thiên nhiên. Chiến công đó, nhân loại cám ơn. Xẻ sông, lấp núi: cái gì con người cũng làm được, thiên nhiên đã bị nhân hóa. Nhưng thiên nhiên cũng đã bị khai thác, bóc lột đến kiệt quệ, rừng trọc đầu, mưa hóa chất, nước nhiễm độc, chúng ta biết rõ hơn ai hết. Và rốt cục, con người ăn trong miếng ăn những chất độc do chính con người thải ra. Đạo đức đối với thiên nhiên trở thành trách nhiệm của chính con người. Các tôn giáo khác nói: không được giết người. Phật giao nói: tôi nguyện không sát sinh, nghĩa là không giết sự sống, và sự sống đó, thú vật đều có, cây cối thiên nhiên đều có, vũ trụ, khí quyển, trái đất đều có, tất cả đều liên đới với con người, phải yêu thương nhau như một thì mới sống còn với nhau.
Tôi vừa động đến một vấn đề hiện đại có tính tiêu cực: vấn đề môi trường. Bởi vì hiện đại không phải cái gì cũng hay. Hiện đại cũng có lắm tiêu cực. Hiện đại cũng đang gặp khủng hoảng. Bởi vậy, sau khi tán thưởng hiện đại và giải thích Phật giáo hiện đại như thế nào, tôi bắt qua điểm thứ ba, trình bày những khủng hoảng của hiện đại.

III. Khủng hoảng của hiện đại.
Khủng hoảng quan trọng nhất của hiện đại là khái niệm về Tiến Bộ. Hồi thế kỷ 19, với sự phát triển thần kỳ của khoa học, ai cũng lạc quan về tương lai. Cha đẻ của môn xã hội học, Auguste Comte, xây dựng cả một hệ thống lý thuyết cắt nghĩa rằng lịch sử của nhân loại là lịch sử của tiến bộ, tiến bộ của đầu óc con người từ giai đoạn thần linh qua giai đoạn siêu hình để cuối cùng đến giai đoạn khoa học. Đó là một sự tiến bộ không ngừng và giai đoạn sau tốt đẹp cho con người hơn giai đoạn trước về phúc lợi, vật chất cũng như tinh thần. Lạc quan đó, Tây phương đã thấy đổ vỡ phũ phàng với chiến tranh thế giới thứ hai. Một nước văn minh như nước Đức trở thành một nước dã man, phi nhân, trong học thuyết cũng như trong hành động. Nước Đức quốc xã đưa ra hình ảnh ghê rợn của một phá sản tinh thần, khi phá sản đó xảy ra trong chính niềm tin vào “tiến bộ đạo đức” mà người ta chờ đợi ở hiện đại. Rồi bom nguyên tử, rồi Hiroshima, rồi chiến tranh lạnh, rồi leo thang vũ khí tận diệt nhân loại, đâu là Tiến Bộ, đâu là đạo đức của khoa học? “Khoa học mà không có lương tâm là đổ nát của linh hồn”, câu nói ấy trở thành thời sự trước mắt. Khoa học là mục đích nhưng lương tâm phải là người bạn đồng hành. Nói là nói thế, nhưng trên thực tế người bạn đồng hành của khoa học lại là chiến tranh, buôn bán vũ khí, chiến tranh làm phát triển khoa học, khoa học phục vụ chiến tranh.

Khái niệm “tiến bộ” cũng được cảnh báo cả khi khoa học làm đúng nhiệm vụ của khoa học là tìm tòi, nghiên cứu, phát minh, vén màn bí mật của vũ trụ và đời sống. Không có gì quý hóa cho con người hơn là những phát minh càng ngày càng nhiều trong y khoa. Khám phá về tế bào gốc chẳng hạn là một trong những phúc lợi lớn mà nhân loại chờ đợi. Nhưng lương tâm có cho phép ta tạo ra đồng loạt vô số những người y chang giống nhau trong tương lai? Chẳng lẽ khoa học cũng bắt chước Tôn Hành Giả nhổ một sợi lông, thổi một cái, để biến ra thành cả trăm con khỉ giống hệt nhau, chẳng biết con nào là khỉ gốc họ Tôn? Hiện đại đang gặp phải vấn đề của “đạo đức sinh học”, mà đạo đức sinh học không thể không liên quan đến cái nhìn của tôn giáo.

Cuối cùng, khái niệm “tiến bộ” còn được đặt lại khi tiến bộ vật chất đưa đến xã hội tiêu thụ trong đó con người bị tha hóa, nghĩa là mất địa vị chủ. Đây là mê lộ trong đó con người Âu Mỹ nhởn nhơ sa vào. Muốn phồn thịnh kinh tế, phải sản xuất. Muốn sản xuất, phải có tiêu thụ. Muốn có tiêu thụ, phải kích thích nhu cầu, không có nhu cầu cũng phải kích lên cho có. Nhu cầu này được thỏa mãn, phải kích lên nhu cầu khác, nhu cầu phải luôn luôn mới để đáp ứng sản xuất phải mới luôn luôn. Hiện đại đòi hỏi những con người có lý tính. Đâu còn là lý tính nữa trước cuộc chạy đua không ngừng đuổi theo nhu cầu giả tạo, đuổi theo tiêu thụ phù du? Con người trở thành nô lệ của quảng cáo, và quảng cáo, tuyên truyền, có đủ mánh lới để tước bỏ phê phán ra khỏi đầu óc người nghe. Lúc nhỏ, ở lớp 11, 12, tôi học câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc”. Biết đủ thì đủ, tìm đủ thì biết đến bao giờ mới thấy đủ! Ấy là câu thơ dí cái chìa khóa vào tay ta để mở cửa thoát ra khỏi mê lộ tiêu thụ. Nhưng cái tài của quảng cáo là mê hoặc, đưa con người tiêu thụ vào siêu thị mà làm người ta tưởng vào chốn đào nguyên!

Tha hóa: con người hiện đại thoát ra khỏi tha hóa đối với Trên Cao thì lại rơi vào tha hóa ở dưới đất. Tha hóa trước sản phẩm, hàng hóa. Tha hóa trước thị trường. Bởi vì cái gì bây giờ cũng trở thành thị trường, cái gì cũng bị thị trường khai thác, kể cả lĩnh vực tâm linh. Phật giáo cũng bị thôi, và bị chính vì sự thành công của mình. Tôi chỉ lấy một ví dụ thôi: cái nhãn hiệu “Nirvana” trên một sản phẩm sắc đẹp của quý bà. Thoa kem ấy vào, lập tức thấy cực lạc! Cực lạc bỗng trở thành nạn nhân của tha hóa. Tôi nhấn mạnh điểm này để giải thích cho các bạn về sự biến đổi của lòng tin ở Tây phương. Đúng là người Âu châu có vấn đề với Thượng Đế. Đúng là nhà thờ vắng tín đồ. Đúng là linh mục khan hiếm, phải cầu viện đến tận các linh mục Phi châu. Đúng là người Âu châu không đi tìm nữa trong tôn giáo truyền thống của họ câu giải đáp lớn cho những khắc khoải của tâm linh, mà đi tìm những phương thuốc tức thì trên hạ giới này, trên đời sống này, ở đây và bây giờ, here and now. Đúng như quy luật của thị trường, ở đâu có cầu thì ở đấy có cung. Hàng loạt tín ngưỡng lang băm, chính tà lẫn lộn, xuất hiện trên thị trường tâm linh, tranh nhau giành khách. Và khách ở đây là những người có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng bơ vơ, cô đơn, mất tập thể, mất phương hướng, mất ý nghĩa sống.
Ngày trước, con người Âu châu cũng yếu đuối trước Thượng Đế, nhưng họ có cái gì để tin, họ có cái chắc chắn. Bây giờ họ cũng yếu đuối, nhưng không có cái gì để tin nữa, họ mất chân đứng, họ mất quân bình, họ mất chiều cao lẫn chiều ngang, họ lung lay. Và vì họ lung lay, họ tưởng cần phải củng cố cái “tôi” của họ, cái “tôi” mà một chủ nghĩa cá nhân quá đà đã đề cao lên thượng đỉnh. Các bạn hiểu tại sao ngành phân tâm học phát triển như thế ở Âu Mỹ, tại sao các bác sĩ phân tâm học đông khách nhà giàu và trí thức: họ đi tìm cái “tôi” của họ! Nhưng cái “tôi” của họ trốn ở đâu? Một số người đi tìm trong cùng tận thâm sâu bí ẩn của ý thức dưới ánh đèn pin của ông Freud. Một số, nông cạn hơn, nghĩ rằng cái “tôi” của mình là cái thân này đây, phải làm cho nó mạnh, khỏe, đẹp, và nhất là trẻ mãi, để “cực lạc” mãi. Tất nhiên họ biết: cung cấp món ăn cho cái thân thì cũng phải cung cấp món ăn cho cái tâm, vì tâm không yên thì thân cũng khó khỏe. Nhưng họ ăn gì trên mâm cơm tinh thần của họ? Ăn lẫu. Nghĩa là hổ lốn. Chút tôm, chút mực, chút thịt gà. Chút Chúa chút Phật. Bác ái lộn xà ngầu với từ bi. Lấy một chút chỗ này, một chút chỗ kia, cái gì mà cá nhân mỗi người thấy hoặc tưởng thích hợp cho riêng mình thì gắp bỏ chung vào cái lẫu nước xúp tâm linh. Người Pháp gọi cách thực hành tân thời này là “bricolage” - lắp ghép thủ công.

Trong chiều hướng đó, ngồi thiền phát triển khắp nơi tại Âu Mỹ. Tất nhiên là hay. Nhưng trong cái hay đó, coi chừng cái dở. Cái dở là thị trường tâm linh đánh đúng vào tâm lý con người thời đại, quảng cáo ngồi thiền như một kỹ thuật để gìn giữ sức khỏe và chỉ như một kỹ thuật mà thôi. Như một kỹ thuật, quảng cáo biến ngồi thiền thành một thứ kem xức mặt, xức vào thì da mặt mát ra, nhìn vào gương thấy cái “tôi” của mình như gái một con trông mòn con mắt. Chắc các bạn biết thần thoại Hy Lạp về anh chàng Narcisse. Anh chàng mê mình đến độ ngất ngây soi bóng mình trên mặt nước, soi gần, thật gần, môi chạm môi, và anh chàng lộn cổ xuống ao. Con người hiện đại ở Tây phương cũng mê cái “tôi” của mình như thế, ve vuốt nó, hôn nó, tưởng nó có thật trong một dòng sông ảo. Nhà sư danh tiếng Tây Tạng Chögyam Trungpa gọi đùa khuynh hướng đó là “chủ nghĩa duy vật tâm linh” (“spiritual materialism”). Nhưng đó đích thực là một vấn đề, một thách thức đối với hiện tại và tương lai của Phật giáo tại Âu Mỹ. Bởi vì ngồi thiền không phải chỉ là một kỹ thuật, lại càng không phải để phục vụ cho cái “tôi”. Ngồi thiền, chính là để thấy cái “tôi” là không có. Và như vậy là tôi bắt qua điểm thứ tư: Phật giao trong thời hiện đại bị khủng hoảng.

IV. Phật giáo và khủng hoảng của hiện đại.
Nhiều tác giả gọi thời đại này là “hậu hiện đại”. Tôi không đồng ý với khái niệm này nên chỉ đề cập ở đây hiện tượng khủng hoảng thôi. Và tôi cũng chỉ xin hạn chế vấn đề vào một khủng hoảng thôi là khủng hoảng của cái “tôi”.

Trước hết, tôi không phủ nhận phúc lợi của việc ngồi thiền, dù cho ngồi thiền chỉ để tăng cường sức khỏe. Ai đã ngồi thiền và ngồi thiền đúng kỹ thuật rồi đều nói: không phải chỉ sức khỏe được tăng cường, tâm hồn cũng được thư thái. Bản thân tôi không phải chỉ chứng nghiệm một lần mà cả ngàn lần: chỉ cần biết nén giận trong một giây thôi, đừng cho nó nổ ra, đã là khóa được cái cửa của địa ngục. Huống hồ ngồi thiền không phải chỉ trong một giây! Bởi vậy, người Tây phương biết đưa việc ngồi thiền vào nhiều lĩnh vực: bệnh viện, nhà tù, trường học, công sở, xí nghiệp… Họ làm có phương pháp, bài bản, làm việc gì cũng phải làm cho đến nơi đến chốn.

Nhưng thiền không phải chỉ là thế. Thiền là tự biết mình, và tự biết mình là để quên mình. Quên mình là để nhập làm một với tất cả những gì hiện hữu. Đó là câu định nghĩa của Đạo Nguyên mà các thiền viện ở Âu Mỹ áp dụng như kinh nhật tụng. Thế nào là tự biết mình? Tôi không muốn đưa các bạn vào lý thuyết xa xôi. Chỉ nói một hành động nhỏ nhặt, cụ thể, của một người Âu Mỹ khi lần đầu tiên bước vào thiền đường. Cử chỉ đầu tiên là cởi giày. Cởi giày, xếp ngay ngắn. Bước nhẹ vào thiền đường. nghe một mùi hương thoảng, gặp một im lặng thẳm sâu, đi trên một sàn gỗ sạch không một hạt bụi, thấy một không gian không chướng ngại mở rộng ra trước mắt. “Cởi giày”: đó là bài kinh đầu tiên của họ. Cởi vướng mắc ra, giải thoát cho hai bàn chân, hai bàn chân quý lắm, bao nhiêu nút thần kinh nằm ở trong đó, hai bàn chân quý lắm, nhờ nó mà mình đứng vững được, hai bàn chân quý lắm, hãy biết quý hai bàn chân như chưa bao giờ mình biết quý nó trước đây, hãy nghe hai bàn chân đang hạnh phúc khi gặp hơi mát của sàn gỗ, nó và cái sàn gỗ đang tan thành một, người bước vào phòng đang biến thành một với gian phòng trống, với im lặng mênh mông. Bàn chân quên nó. Người bước vào phòng quên mình, để cái “tôi” ngoài cửa, như để đôi dép.

Từ khi sinh ra, ta đã muốn chỉ huy cả thế giới, sai khiến mọi người chung quanh. Đói, khóc ầm lên, mẹ phải đưa ngay bầu sữa. Thèm hơi ấm, mếu máo để được người bồng. Muốn cái gì phải có ngay cái nấy, không thì la hét. Ta là trung tâm của vũ trụ, tất cả mọi người đều phải chiều ta. Lớn lên, ta cũng vậy thôi, 99% của cuộc đời ta được xài phí để lái thiên hạ, bắt thiên hạ phải thỏa mãn ý muốn của ta. Thậm chí, cái mà ta gọi là “tình yêu” suy cho cùng cũng chỉ là nhu cầu cần có một quan hệ gần gũi để ta cảm thấy sung sướng. Có lẽ ở đâu cũng vậy, nhưng trong văn hóa của cá nhân chủ nghĩa Âu Mỹ, nghĩ đến ta được xem là chuyện bình thường, tất nhiên. Ai lái người khác giỏi để phục vụ mình tốt, người ấy được xem là thành công. Thiền là trái ngược lại. Không nhắm tích tụ. Không nhắm chinh phục. Càng nhiều cái “có” càng ít cái “là”, cái tinh túy, cái bản chất, cái đem lại hạnh phúc. Và tôi “là” gì, chính là ở phút này đây. Ở phút này đây, tôi còn sống, còn thở, còn nói, còn có các bạn để nghe, còn có nắng đẹp ngoài kia, gió mát đang thổi, hạnh phúc vô biên, hạnh phúc được sống với cái khoảnh khắc này, được làm một với các bạn, được làm một với tất cả, được làm một với tờ giấy trước mắt tôi. Thiền không phải là ngồi yên. Thiền là không đi ăn mày nữa, không ngửa tay xin xu hào nơi người khác, nơi bên ngoài, bởi vì thiền là biết rằng cả một kho tàng châu báu nằm ở trong ta, hãy nhìn vào để thấy, và để chiêm nghiệm rằng ta càng trống đi cái “tôi” thì kho tàng ấy càng đầy.

Các thiền viện Âu Mỹ biết nhắm đến cái mục đích ấy. Kho báu trong tôi càng đầy, khả năng nhập thành một với mọi vật chung quanh càng nhạy bén, và khi ấy, tôi khổ với cái khổ của bạn, tôi vui với cái vui của bạn, tôi không còn nữa, bạn cũng không còn nữa, chỉ còn cái khổ chung, cái vui chung. Định nghĩa của chữ “từ bi” là như vậy, và ngồi thiền chính là để mở rộng lòng từ bi. Tôi đã là một với tất cả, làm sao tôi không thương tất cả, từ thiên nhiên đến loài vật, từ người gần đến người xa?
Tôi biết: đó là lý thuyết rất cao mà không phải ai cũng đạt được hoặc hiểu được. Nhưng, tôi xin quả quyết: cứ bước dần đi mỗi bước rồi sẽ thấy: quên mình nhiều nhiều hơn một chút, nghĩ đến người khác nhiều nhiều hơn một chút, ấy là con đường đi đến hạnh phúc. Và xin các bạn hãy biết điều này: các người Âu Mỹ ngồi trong thiền đường phần đông là trí thức hoặc thuộc thành phần cao trong xã hội, đã nắm khá vững lý thuyết Phật giáo và có lòng hướng đến một cái gì cao hơn đời sống vật chất, vị kỷ. Tôi nói điều này là để nghĩ đến tương lai của Phật giáo ở Âu Mỹ. Phật giáo hạn chế ở tầng lớp trí thức hay mở rộng ra cho đại chúng?


 Tôi không có thì giờ để đi sâu vào câu hỏi này. Chỉ xin nói rằng: bộ não của con người gồm hai phần: khả năng lô-gích, trừu tượng, phân tích, tương ứng với não bộ phía trái; khả năng nhận ra sự giống nhau giữa những cái khác nhau, trực giác, tổng hợp, tương ứng với não bộ phía phải (4). Tác giả Frédéric Lenoir cho rằng văn minh Tây phương chú trọng tác động trên vũ trụ, tương ứng với việc đặt ưu tiên trên não bộ phía phải. Phật giáo đến Tây phương đã đóng vai trò tích cực trong việc làm quân bình hai vùng trong não bộ con người Tây phương. Trong cái ý đó, câu nói nổi tiếng của nhà sử học Arnold Toynbee đã thành dễ hiểu: “Sự gặp gỡ giữa Phật giáo và Tây phương là biến cố có ý nghĩa nhất của thế kỷ 20”.

Tôi cũng nhân cái ý đó để nói thêm rằng Phật giáo chính là sự quân bình và trước hết là quân bình giữa trí tuệ và lòng tin. Không có trí tuệ thì không hiểu được đức Phật. Nhưng không có lòng tin thì cánh cửa cuối cùng của trí tuệ vẫn không mở ra. Trí tuệ cũng như hoa mai. Lòng tin cũng như hơi ấm đầu tiên của mùa xuân. Chạm vào một điểm của hơi ấm đó thôi, hoa nờ bung. “Nhất điểm xuân quang xứ xứ hoa” là vậy. Chỉ một làn gió xuân thoảng qua thôi, chốn chốn hoa mai bừng nở. Thiền là cây cầu bắt qua giữa trí tuệ và lòng tin. Đó là pháp môn - cánh cửa đạo - mở ra cho các bậc thượng thủ. Nhưng không phải ai cũng là thượng thủ cả, cho nên Phật giáo nói có đến “bốn vạn tám ngàn pháp môn” thích hợp với căn cơ của mỗi người. Ai giàu trí tuệ, như giới trí thức ở Âu Mỹ, đi vào Phật giáo bằng cửa thiền. Ai giàu lòng tin… Đây chính là tương lai của Phật giáo tại Tây phương. Bởi vì Phật giáo muốn lan tỏa ở đây phải biết rằng không phải ai cũng là trí thức. Vậy thì, có một nhánh Phật giáo nào ở Âu Mỹ có khả năng lan tỏa ra đại chúng chăng? Có. Đó là Phật giáo Tây Tạng mà ngài Đạt Lai Lạt Ma là hình ảnh sống động. Phật giáo bám rễ được ở Tây phương là nhờ ngài và cả một loạt những nhà sư Tây Tạng xuất chúng qua giáo hóa tại đấy. Chỉ mỗi một việc xuất hiện của các vị đó thôi đã làm dấy động được lòng tin nơi quần chúng. Phật giáo Tây Tạng đáp ứng được những khắc khoải về tâm linh của quần chúng hơn là thiền tông đến từ các thiền sư Nhật Bản. Nhưng dù là thiền tông hay Phật giáo Tây Tạng, trí tuệ và lòng tin phải cùng bay với nhau như hai cánh của con đại bàng.

Các bạn đồng nghiệp trí thức và sinh viên thân mến, chính vì hai cánh của con đại bàng mà tôi chọn đề tài này để nói chuyện với các bạn hôm nay. Tôi đâu có nói chuyện bên Tây. Tôi nói chuyện bên ta! Chúng ta đã lãng quên trí tuệ của thiền tông Yên Tử. Chẳng lẽ đạo Phật trí tuệ đã bay cả rồi qua bên Tây? Chẳng lẽ Tây phương thừa hưởng hết tinh túy của Phật giáo? May thay, chúng ta rất giàu lòng tin, nhưng buồn thay, lắm khi, lắm nơi, đó là tin nhảm, đó là mê tín, đó không phải là đạo Phật. Không, nhất quyết ta không để gãy chiếc cánh trí tuệ của con đại bàng Lý Trần. Nhất quyết ta củng cố lòng tin chân chính. Đó là nhiệm vụ của Tuần Lễ Văn Hóa hôm nay. Các bạn trí thức Nghệ An thân mến, hãy chắp lại hai cánh của con đại bàng lịch sử. Hãy bay với hai cánh vào hiện đại.

C.H.T

Chú thích:

• Câu nói của Nietzsche, trích trong Frédéric Lenoir, Le bouddhisme en France (xem l ại) trang 9.
• Fernand Braudel: Grammaire des civilisations, Arthaud-Flammarion, 1987, trang 371.
• Dẫn trong Frédéric Lenoir, La rencontre du bouddhisme et de l’Occident, Albin Michel, 2001, trang 318.
• Frédéric Lenoir, như trên, trang 353.


Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014


ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM LÀM THƠ ?

Thanh Thanh

Trong tháng 10 năm 2003, sắp-sửa đến ngày 2-11-2003 là ngày giỗ lần thứ 40 của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, ông Trần Việt Yên ở San Jose đã đăng lên một số diễn-đàn liên-mạng một bài thơ Đường-luật và tin theo lời của ông Lệ Khanh nào đó cho rằng đó là thơ của ông Ngô Đình Diệm sáng-tác vào năm 1953. Nguyên-văn như sau:

NĂM MƯƠI NĂM
ĐỌC BÀI THƠ "NỖI LÒNG" CỦA MỘT CHÍ SĨ
Trần Việt Yên

Tình cờ tôi gặp nhà thơ Lệ Khanh, trong câu chuyện hàn huyên, anh hỏi tôi:
- "Có biết cụ Diệm làm thơ không?"
- "Tôi chưa nghe nói" - tôi thành thực trả lời
Anh kể:
- "Cụ Diệm có một bài thơ làm từ năm 1953, Việt Yên muốn nghe tôi đọc cho nghe.
- "Vâng xin anh đọc đi" - tôi vừa trả lời vừa sửa soạn giấy bút để ghi chép lại.
Anh đọc bài thơ cho tôi chép:

NỖI LÒNG
Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!
Xe muối nặng nề thân vó Ký
Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng
Vá trời lấp biển người đâu tá?
Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế
Cắm sào đợi khách, thuở nào trong?
(Chí sĩ) NGÔ ĐÌNH DIỆM 1953

Mới thoạt nghe bài thơ Lệ Khanh đọc, tự nhiện tôi rùng mình, cảm xúc bài thơ đi thẳng vào tim óc, tôi nhẩm đi nhẩm lại bài thơ, gần như thuộc lòng,
Trở lại với bài thơ NỖI LÒNG của chí sĩ NGÔ Đ̀NH DIỆM , tôi xin được nêu vài ý nghĩ thô thiển về bài thơ của cụ...
Theo Lệ Khanh cho biết Cụ Diệm làm bài thơ này từ năm 1953, nếu trí nhớ không đánh lừa tôi thì... lúc đó cụ Diệm chưa về nước chấp chánh, cụ còn đang lưu ngụ trong một nhà dòng Thiên Chúa Giáo tại tiểu Bang Misouri (?) Hoa Kỳ . Thời điểm đó, chiến cuộc Đông Dương đang diễn ra ác liệt... Hội nghị Genève được hình thành nhằm tìm kiếm hòa bình cho Đông Dương, các chính phủ Quốc gia được thành lập và tham dự hòa đàm Genève, nhưng... Người Mỹ với vai trò lănh đạo khối thế giới Tự Do nóng lòng và muốn can thiệp vào vũng lầy Đông Dương, đang tìm kiếm một khuôn mặt ít chịu ảnh hưởng của người Pháp để ủng hộ , Do những quen biết, ông Ngô Đình Diệm có lẽ đă được thăm dò ý kiến về vai trò lãnh đạo, theo tôi chính đó là hoàn cảnh bài thơ NỖI LÒNG được ra đời .
Đọc bài thơ NỖI LÒNG người ta thấy được tinh thần dấn thân của một con người đang muốn xông pha vào thế cuộc , Chỉ 3 chữ “quẩy sang sông “ đă thể hiện được thái độ hăm hở xốc vác dám dấn bước sang một hoàn cảnh khác của tác giả... Câu thơ thứ 2 ” Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không , Mặc dù hăm hở muốn sang sông, tác giả vấp phải hoàn cảnh thực tế phũ phàng : Muốn sang sông thì phải có thuyền, nhưng thuyền không có mà lái cũng không nốt!! Nhìn vào hoàn cảnh nước nhà lúc đó con thuyền quốc gia đang bị sóng gió cộng sản vùi dập, mà người đủ tài lèo lái con thuyền cũng không có, lấy gì để sang sông. Riêng trong trường hợp tác giả lúc đó, dù nóng lòng hăm hở muốn sang sông gánh vác, nhưng thuyền là tổ chức, mà người lãnh đạo cũng chưa có thì làm sao có thể sang sông cho được bây giờ ?!... Nếu cứ chần chừ chờ cơ hội thuận tiện thì bao giờ cơ hội mới đến, vì thế phải nhập cuộc, phải sang sông . Đọc cả bài thơ tôi thấy toát lên cái hào sảng của một kẻ sĩ, dù đang ẩn nhẫn , nhưng quyết chí phải xông pha vào con đường gió bụi phong trần cái hăm hở của một con người nhập thế, dám chấp nhận thử thách khó khăn...
Có lẽ vì mang tinh thần NHẬP CUỘC đó mà chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM sau đó ít lâu đă nhận lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về nước đảm nhận vai trò thủ tướng khi người Pháp đang bị vây khốn Điện Biên Phũ,

TRẦN VIỆT YÊN

Đến tháng 10 năm 2006, bài viết trích trên của ông Trần Việt Yên đã được đăng lại trên nhiều diễn đàn (cùng với các lỗi chính tả y nguyên như cũ).

⊙⊙⊙

Đọc lời bình của ông Trần Việt Yên, tôi cũng "rùng mình."

1/ Ông Trần Việt Yên không biết gì về lịch sử cả (ít nhất là những gì liên quan đến bài thơ và ông Ngô Đình Diệm).
Bài thơ được cho là làm vào năm 1953, mà ông Trần Việt Yên viết là:
- “Hội nghị Genève được hình thành” trong lúc sự thật là mãi cho đến năm sau, ngày 26 tháng 4 năm 1954 Hội-Nghị Genève mới hình thành (chấm dứt ngày 21-7-1954)! "lúc đó cụ Diệm chưa về nước chấp chánh, cụ còn đang lưu ngụ... tại tiểu Bang Misouri (?) Hoa Kỳ.
Tất nhiên là chưa về nước chấp chánh, viết như thế là thừa.
- Vả lại, ở Mỹ mà không viết đúng cái tên của Bang Missouri (tối thiểu cũng có trong sổ điện-thoại)? Hơn nữa, sự thật là ông Diệm ở Bang New Jersey (mặc dù ông Trần Việt Yên có ghi dấu hỏi nghi-vấn liền sau tên Bang Missouri, nhưng một khi ông Yên đã chú ý đến thời-điểm ra đời của bài thơ (năm 1953) nhất là hoàn-cảnh lúc đó của tác-giả (Ngô Đình Diệm) mà ông Yên vẫn cứ mù-mờ nhập-nhằng sự-kiện này với thời-điểm kia chứ không chịu tìm hiểu xem ông Diệm lúc đó cư-ngụ/sinh-sống ở đâu, thì làm sao mà bình thơ, vể NỖI LÒNG của ông Diệm được?
- “mà chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM đă nhận lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về nước đảm nhận vai trò thủ tướng khi người Pháp đang bị vây khốn Điện Biên Phũ”. Sự thật là Điện Biện Phủ (trận đánh mở màn từ 13-3-1954) đã thất thủ vào ngày 7-5-1954 rồi, thì, gần một tháng rưỡi sau, khi ông Ngô Đình Diệm được Quốc Trưởng Bảo Đại cử làm thủ tướng vào ngày 16-6-1954, Pháp đã đầu hàng rồi, đâu còn “đang bị vây khốn” ở Điện Biên Phủ nữa?

2/ Nội-dung bài thơ (nếu là của ông Ngô Đình Diệm) thì thật là đã rọi thêm ánh sáng vào tâm-trạng (“nỗi lòng”) thật sự của ông Diệm lúc bấy giờ:
Theo ý bài thơ thì tác-giả (cho là ông Ngô Đình Diệm) là người đang muốn “sang sông” (đem tài ra giúp nước), nhưng “thuyền không, lái cũng không!”, nên “Cắm sào đợi khách” mà không biết dòng sông “thuở nào” mới “trong.”
Ông Trần Việt Yên đã bàn rõ thêm: “Mặc dù hăm hở muốn sang sông, tác giả (Ngô Đình Diệm) vấp phải hoàn cảnh thực tế phũ phàng : Muốn sang sông thì phải có thuyền, nhưng thuyền không có mà lái cũng không nốt!! Nhìn vào hoàn cảnh nước nhà lúc đó con thuyền quốc gia đang bị sóng gió cộng sản vùi dập, mà người đủ tài lèo lái con thuyền cũng không có, lấy gì để sang sông.” Chừng e chưa rõ, ông Trần Việt Yên lặp lại lần nữa: “Riêng trong trường hợp tác giả (Ngô Đình Diệm) lúc đó, dù nóng lòng hăm hở muốn sang sông gánh vác, nhưng thuyền là tổ chức, mà người lãnh đạo cũng chưa có (Vá trời, lấp biển, người đâu tá?) thì làm sao có thể sang sông cho được bây giờ ?!

Rõ ràng, theo ông Trần Việt Yên, thì ông Ngô Đình Diệm muốn “sang sông” (đem tài ra giúp nước), nhưng không có thuyền (không có tổ chức), không có người lái (không có lãnh đạo), cho nên không thể “sang sông”, chỉ biết “cắm sào đợi khách” mà thôi. Như thế tức là ông Ngô Đình Diệm không có tổ chức (thuyền) của mình, mà chỉ trông chờ tổ chức của người khác, và chấp nhận để cho người khác lãnh đạo (lái) mình. Nói một cách khác, ông Ngô Đình Diệm sẵn-sàng đem tài ra phục-vụ trong tổ-chức của người khác, dưới quyền lãnh đạo của người khác, mà chưa toại nguyện, nên phải bất động, hay bất-lực, “cắm sào” (không làm gì hơn) để chờ thời thôi. Câu thơ “Vá trời lấp biển người đâu tá?” chỉ rõ là ông Ngô Đình Điệm không/chưa thấy, nên mong chờ, người lãnh đạo ấy -- là người khác (chứ có ai lại đi mong chờ chính mình?). Câu thơ thứ hai đã khẳng định là “thuyền không (không có tổ chức), lái cũng không (không có lãnh tụ)” rồi, cho nên câu cuối (Cắm sào đợi khách, thuở nào trong?) không có nghĩa là con thuyền hay người lái đò “cắm sào đợi khách” (vì từ câu 2 đã nói rõ là không có thuyền, không có người lái, tức không có tổ chức, không có lãnh đạo rồi), mà là nói về nỗi lòng của tác giả (lần lữa nắng mưa) “cắm sào đợi khách” tức là bất động, và thụ động trông chờ một con thuyền tức một tổ chức, và một người lái tức một người lãnh đạo, hầu ông bước lên con “thuyền” ấy, tùy vào người “lái” đò ấy, để mà “sang sông”). “Thuở nào trong?” là lời tự hỏi của tác giả, không biết bao giờ mới có tổ-chức và người lãnh đạo tài ba ấy, để sông hết đục và nước nên trong (Đó là hiểu theo lời bình của ông Trần Việt Yên – xin mời đọc lại -- chứ không phải là của tôi).

Tôi liền lục tìm tài-liệu lịch-sử thì thấy quả là từ năm 1950 ông Ngô Đình Diệm đã qua Nhật Bản tìm gặp Kỳ-Ngoại-Hầu Cường Để (dòng dõi Hoàng-Tử Cảnh; từng được nhóm Phan Bội Châu và một nhóm giáo-dân Ky-Tô từ Quảng Bình tới Nghệ An tôn làm Minh Chủ lo việc chống Pháp; bị Pháp tuyên án tử-hình khiếm-diện; cầm đầu Viêt-Nam Phục-Quốc Đồng-Minh-Hội, tổ-chức Việt-Nam Kiến-Quốc-Quân; hoạt-động khắp Hồng-Kông, Nhật, Trung-Hoa, Thái-Lan, Singapore, Ý, Đức, Anh; được Bảo Đại cử làm Trưởng Cơ-Mật-Viện; cư-ngụ và có thế-lực ở Nhật) để bàn với ông Cường Để về việc thành-lập một chính-phủ chống Cộng; rồi qua Mỹ, tiếp xúc với Bộ Ngoại-Giao Hoa-Kỳ; rồi qua Pháp, rồi qua Roma, rồi liên lạc với Quốc Trưởng Bảo Đại (ngỏ ý sẵn sàng làm thủ tướng, với một số điều kiện); xong mới qua Mỹ lại.
Từ đó, ở Mỹ nhiều năm (dưới sự bảo trợ của Hồng-Y Francis Joseph Spellman, làm quen với nhiều dân-biểu và Thượng-Nghị-Sĩ như Mike Mansfield, John F. Kennedy...), ông Ngô Đình Diệm vận động ráo riết (kể cả đề nghị giải pháp suy tôn Hoàng-Thái-Tử Bảo Long vào năm 1951, lưu giữ quân đội Pháp lại tại Việt Nam vào năm 1953). Hiển-nhiên ông Diệm không thể đề-nghị Cường Để cũng như Bảo Long phục-vụ dưới quyền của mình, mà ngược lại mà thôi.
Tháng 5 năm 1953 ông qua Âu Châu (và đến đầu năm 1954 vẫn chưa được ai bàn chuyện chính ông chấp chánh). Đó là hoàn-cảnh và tâm-trạng thực-sự của ông Ngô Đình Diệm vào năm 1953, năm làm bài thơ nói trên. Thế thì ông Trần Việt Yên quả đã hiểu đúng nỗi lòng và bài thơ (cho là) của ông Ngô Đình Diệm vậy.

Do đó, nếu căn-cứ vào các loại “tài-liệu” của những người thân-Diệm sau này, tán-tụng ông Diệm lên tận mây xanh, thì ông Trần Việt Yên, dựa vào ông Lệ Khanh, đã phạm tội vu khống ông Ngô Đình Diệm là tác giả bài thơ ấy (vì bài thơ ấy phản lại huyền-thoại do một số người dựng lên về quá-trình sự-nghiệp của ông Diệm: tự mình làm nên, không nhờ vào ai, nhất là không chịu ở dưới quyền ai), tức là ông Trần Việt Yên đã hạ thấp giá trị tinh thần của chí sĩ họ Ngô vậy.
Hoặc giả (nếu quả thật bài ấy là thơ của ông Ngô Đình Diệm), thì ý tác-giả là ông đã có tổ-chức nằm sẵn trong nước, chỉ cần, và rất cần, được (siêu quyền-lực) hợp-thức-hóa thành một con thuyền, để ông được chính-thức-hóa thành kẻ lái đò, tức người lãnh-đạo, thì bài thơ “khẩu-khí” nói lên hoài-vọng của ông như trên cũng đã đồng-thời đặt ra và xác-nhận một thực tế là yếu-tố ngoại-bang trong chiều dài vận-động chính-trị của các chính-khách Việt-Nam xưa và nay: một bên là Liên-Xô; một bên là Đông-Du, Đông-Kinh Nghĩa-Thục, rồi Hoa-Kỳ. Và Hoa-Kỳ sau này vẫn là cái bến tốt nhất cho các con thuyền vào đậu hay ra đi (mà Diệm thì vào đậu nhờ, song sau khi tách bến đã tự biến thành con thuyền không bến, không cả tìm về bến cũ với cây đa xưa).
Tôi không tin rằng ông Ngô Đình Diệm có làm thơ ‒ đâu giỏi Hán-văn mà làm thơ Đường-luật? (↓) vả lại người sính làm thơ thì đã làm nhiều, chứ đâu chỉ có một bài! ‒ nhưng tôi lại tin rằng, nếu ông Diệm mà có làm thơ, thì hẳn là ông đã hủy (không còn lưu lại) bài thơ... bất-lợi cho ông như trên.

⊙⊙⊙

Trở lại thời-gian 1954-63, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa: hầu hết các cơ-quan truyền-thông (đều do chế-độ kiểm-soát), các công-chức và quân-nhân văn+nghệ-sĩ, cùng với các phần-tử mưu-cầu danh-lợi, đều đã nỗ-lực tối-đa để sản-xuất những tác-phẩm (chưa kể các báo-cáo, diễn-văn, kiến-nghị, thỉnh-nguyện-thư, lời nói miệng...) đề-cao Tổng-Thống họ Ngô. Nhưng đằng sau những cố gắng ấy đã có thấp-thoáng cái mặc-cảm tự-ti rằng Ngô Tổng-Thống trong này có thể thua kém Hồ Chủ-Tịch ngoài kia về một số mặt nào đó, cho nên người ta đã tô vẽ quá đà. Một trong các thí-dụ là: ngoài Bắc thì Tố Hữu cường-điệu “Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin”, trong Nam thì Đỗ Tấn (Đỗ Tấn Xuân) xuất-bản hẳn cả một tập thơ nhan đề “Mùa Hoa Sim Nở” mà then chốt trong đó là câu: Tiếng đầu lòng con gọi: “Cụ Ngô”!
Trong bối-cảnh đó, nếu có, dù chỉ một câu, thơ của Cụ Ngô, thì hẳn mọi người đã tranh giành nhau giảng-bình, ca-tụng, chêm vào các sách văn-học-sử, đem dạy khắp mọi lớp+trường, phổ-biến khắp các công+quân+tư-sở, phổ nhạc, dịch qua các tiếng nước ngoài, v.v..., nhất là dùng làm bằng-chứng cụ-thể rằng chính Cụ Ngô cũng có làm thơ, chứ đâu thua kém Cụ Hồ ngoài kia!

Còn một điểm nữa, là nếu ông Ngô Đình Diệm, vì quá nôn nóng ra làm quan sớm trong triều bù-nhìn dưới quyền thực-dân (nên đã khai gian trội tuổi để được nhận vào học trường Hậu-Bổ), rồi lại tiếp-tục mải-mê theo-đuổi chí-huớng của mình, nên chỉ làm được có một bài thơ mà thôi, thì nó là phần di-sản tinh-thần quý-hiếm của ông; lẽ nào những người thân-tín hàng đầu, như ông+bà Trần Trung Dung, Hồng-Y Nguyễn Văn Thuận, các linh-mục ở Phủ Cam, các người quản-thủ văn-khố của gia-đình họ Ngô, của cố Tổng-Giám-Mục Ngô Đình Thục, và cả bà Ngô Đình Nhu, v.v... mà cũng không biết gì đến bài thơ ấy; và những nhân-vật hoài-Ngô sưu-tầm viết-lách đầy dẫy trên trường sách+báo truyền-thanh truyền-hình và Internet, nhất là từ năm 1963, mà cũng không ai nói đến -- mà phải đợi đến dịp giỗ lần thứ 40 của ông (40 năm sau khi ông mất), vào năm 2003, mới có một ông Lệ Khanh nào đó, nhân trong câu chuyện hàn huyên, không trưng xuất-xứ, mà tung bài thơ ấy ra?

Thế nhưng ông Trần Việt Yên lại còn rao thêm là có cả một mục-sư tên Hồ Xuân Phong (?) cho hay là ông Ngô Đình Diệm còn có một bài thơ thứ hai nữa, nhan đề “Tóc Bạc”, sáng-tác vào thập-niên 1960 (thời-gian ông Diệm đạt-nguyện), mà mục-sư ấy không nhớ, chỉ nhớ một bài họa lại của một “nữ sĩ vô danh” vào năm 1963 (là năm cuối-cùng của Tổng-Thống Diệm).
Bài thơ chủ-yếu và hiếm-hoi (cho là) của một danh-nhân mà không cần nhớ, lại đi nhớ bài họa lại của một phần-tử vô-danh!

⊙⊙⊙

Cuối cùng, cũng trong tháng 10, vào ngày 22-10-2006, giáo-sư Lưu Trung Khảo đã lên tiếng về bài thơ này như sau:
To: Nuoc_Viet @yahoogroups. com, yen @vlink. com,
CC: mangykien @yahoo. com, @calitoday.com,
From: "khao luu" <luutrungkhao@ yahoo.com >
Date: Sun, 22 Oct 2006 21:23:43 -0700 (PDT)
Subject: Re: [Nuoc_VIET] 50 nam sau doc bai tho “Noi long" cua mot chi si - Bai viet nam 2003
Thưa quý vị,
Tác giả bài thơ Nỗi Lòng là cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác, Giáo sư trường Đại Học Văn Khoa Saigon trước 1975.
Hồi thời Đệ Nhất Cộng Hòa, không hiểu vì đâu có tin đồn rằng cụ Ngô là tác giả bài thơ đã in trong Văn Đàn Bảo Giám với tên tác giả là Nguyễn Sĩ Giác. Cụ Lãng Nhân* cũng đã viết rõ ràng về lai lịch bài thơ này trong cuốn “Giai Thoại Làng Nho” hay “Chơi Chữ” (tôi không nhớ rõ cuốn nào).
Xin kính trình để quý vị thẩm định.

LƯU TRUNG KHẢO

* Lãng Nhân là biệt hiệu của cụ Phùng Tất Đắc, nhà văn, chủ trương nhà xuất bản Nam Chi tại Saigon trước năm 1975, tác giả “Chơi Chữ” (1961), “Chuyện Vô Lý” (1962), “Hán Văn Tinh Túy” (1965), “Giai Thoại Làng Nho” (1966), “Chuyện Cà Kê” (1968)...
* <<... “Trong tập hồi ký có tên “Khúc Tiêu Đồng”, tác giả Hà Ngại có viết: “Nguyên ông Ngô Đình Diệm tốt nghiệp trường Pháp (Diplôme complémentaire), không có khoa mục – tức là không có khoa bảng về Hán văn... Cụ (Nguyễn Hữu) Bài (thông gia với cụ Ngô Đình Khả) lúc bấy giờ là Thượng Thư Bộ Lại, quyền uy rất lớn, cụ Bài muốn cho ông Diệm vào trường Hậu Bổ, mới tâu xin vua ra một điều lệ mới: Là người nào có văn bằng tốt nghiệp Trung Học Pháp *, được xem ngang Tú Tài Hán Học và đương nhiên ấm sinh Tú Tài được thi vào trường Hậu Bổ. Ông Diệm là con quan, có ấm sinh, nên được thi vào trường Hậu Bổ... Nhưng điều lệ ấy chỉ có ông Diệm và một vài người có thế lực được hưởng. Sau một thời gian ngắn, điều lệ ấy bị bãi bỏ.” (trang 126) >>
(Hà Thúc Ký, “Sống Còn với Dân Tộc”, California: Phương Nghi, 2009, trang 166-67)

*(Hồi đó có 2 chương-trình giáo-dục: chương-trình Pháp do giáo-viên Pháp dạy tại trường Pháp, sau 4 năm thi lấy bằng Diplôme là bằng Trung-Học Đệ-Nhất Cấp ̶ chương-trình bản-xứ do giáo-viên Việt dạy tại trường Việt, sau 4 năm thi lấy bằng Thành Chung; cả hai đều tương-đương lớp 9 ̶ chương-trình Việt có dạy Hán-tự. Học thêm 3 năm nữa mới thi lấy bằng Baccalauréat hoặc Tú-Tài tức Trung-Học Đệ-Nhị Cấp tương-đương lớp 12)

NGƯỜI THƠ
www.Thanh-Thanh. com